BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ TRƯỜNG THCS PHONG XUÂN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    CHÂM NGÔN HÔM NAY

    Một cuốn sách hay dạy tôi nhiều điều hơn là đọc nó. Tôi phải nhanh chóng đặt nó xuống, bắt đầu sống theo những điều mà sách chỉ dẫn. Tôi khởi đầu bằng cách đọc và tôi phải kết thúc bằng hành động. (Henry David Thoreau)

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z5393809506254_97ec461a832bee5369f19b7573c2d128.jpg Z5393809511555_fc1e3767d367f26afa30d4a9bda1ebd3.jpg Z5393809515888_d526de519a7e5c31ce7d60d1fb672939.jpg Z5393809500301_2d696499cbf1281cd4d689e1c004f43d.jpg

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Di tim le song

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Lan (trang riêng)
    Ngày gửi: 13h:10' 30-04-2024
    Dung lượng: 866.4 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Đi Tìm Lẽ Sống
    Viktor E. Frankl
    Nguyên tác: Trotzdem Ja zum Leben sagen: Ein Psychologe erlebt das
    Konzentrationslager
    Biên dịch: Đặng Ngọc Thảo - Giang Thủy - Ngọc Hân
    Công ty phát hành: First News - Trí Việt
    Nhà xuất bản: NXB Trẻ
    Số trang: 224 trang
    Ngày xuất bản: 08-2011
    ∞ ∞ ∞ ∞ ∞
    Đánh máy: notrinos
    Soát lỗi & đóng gói: Bố Bủm Xì
    Ngày hoàn thành: 29-05-2016
    Nguồn: Tve-4u
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Mục lục
    LỜI NÓI ĐẦU
    LỜI GIỚI THIỆU CHO LẦN ẤN BẢN NĂM 1992
    PHẦN 1: NHỮNG TRẢI NGHIỆM TRONG TRẠI TẬP TRUNG
    PHẦN 2: SƠ LƯỢC VỀ LIỆU PHÁP Ý NGHĨA
    TÁI BÚT 1984
    LỜI CUỐI

    Viktor Emil Frankl (1905 - 1977)
    Một lần, mọi người yêu cầu Viktor Frankl tóm gọn ý nghĩa cuộc sống của
    ông trong chỉ một câu. Ông đã viết câu trả lời trên giấy và hỏi lại các sinh
    viên xem họ đoán ông đã viết gì.
    Sau một hồi im lặng, một sinh viên phát biểu: “Ý nghĩa cuộc sống của
    thầy là giúp người khác tìm ra ý nghĩa cuộc sống của họ”.
    “Chính xác” - Frankl nói. - “Đó chính là những lời mà tôi đã viết”.

    LỜI NÓI ĐẦU
    Đi tìm lẽ sống của Viktor Frankl là một trong những quyển sách kinh điển
    của thời đại. Thông thường, nếu một quyển sách chỉ có một đoạn văn, một ý
    tưởng có sức mạnh thay đổi cuộc sống của một người, thì chỉ riêng điều đó
    cũng đã đủ để chúng ta đọc đi đọc lại và dành cho nó một chỗ trên kệ sách
    của mình. Quyển sách này có nhiều đoạn văn như thế.
    Trước hết, đây là quyển sách viết về sự sinh tồn. Giống như nhiều người
    Do Thái sinh sống tại Đức và Đông Âu khi ấy, vốn nghĩ rằng mình sẽ được
    an toàn trong những năm 1930, Frankl đã trải qua khoảng thời gian chịu
    nhiều nghiệt ngã trong trại tập trung và trại hủy diệt của Đức quốc xã. Điều
    kì diệu là ông đã sống sót, cụm từ “thép đã tôi thế đấy” có thể lột tả chính
    xác trường hợp này. Nhưng trong quyển sách này, tác giả ít đề cập đến
    những khó nhọc, đau thương, mất mát mà ông đã trải qua, thay vào đó ông
    viết về những nguồn sức mạnh đã giúp ông tồn tại. Nhiều lần trong quyển
    sách này, Frankl hay trích dẫn lời của Nietzche[1]: “Người nào có lý do để
    sống thì có thể tồn tại trong mọi nghịch cảnh”. Ông chua xót kể về những tù
    nhân đã đầu hàng cuộc sống, mất hết hy vọng ở tương lai và chắc hẳn là
    những người đầu tiên sẽ chết. Ít người chết vì thiếu thức ăn và thuốc men,
    mà phần lớn họ chết vì thiếu hy vọng, thiếu một lẽ sống. Ngược lại, Frankl
    đã nuôi giữ hy vọng để giữ cho mình sống sót bằng cách nghĩ về người vợ
    của mình và trông chờ ngày gặp lại nàng. Ông còn mơ ước sau chiến tranh sẽ
    được thuyết giảng về các bài học tâm lý ông đã học được từ trại tập trung
    Auschwitz. Rõ ràng có nhiều tù nhân khao khát được sống đã chết, một số
    chết vì bệnh, một số chết vì bị hỏa thiêu. Trong tập sách này, Frankl tập
    trung lí giải nguyên nhân vì sao có những người đã sống sót trong trại tập
    trung của phát xít Đức hơn là đưa ra lời giải thích cho câu hỏi vì sao phần
    lớn trong số họ đã không bao giờ trở về nữa.
    Những trải nghiệm kinh hoàng của tác giả trong trại tập trung Auschwitz
    đã củng cố một trong những quan điểm chính của ông: Cuộc sống không
    phải chỉ là tìm kiếm khoái lạc, như Freud[2] tin tưởng, hoặc tìm kiếm quyền
    lực, như Alfred Adler[3] giảng dạy, mà là đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Nhiệm
    vụ lớn lao nhất của mỗi người là tìm ra ý nghĩa trong cuộc sống của mình.
    Frankl đã nhìn thấy ba nguồn ý nghĩa cơ bản của đời người: thành tựu trong
    công việc, sự quan tâm chăm sóc đối với những người thân yêu và lòng can
    đảm khi đối mặt với những thời khắc gay go của cuộc sống. Đau khổ tự bản
    thân nó không có ý nghĩa gì cả, chính cách phản ứng của chúng ta mới khoác

    lên cho chúng ý nghĩa. Frankl đã viết rằng một người “có thể giữ vững lòng
    quả cảm, phẩm giá và sự bao dung, hoặc người ấy có thể quên mất phẩm giá
    của con người và tự đặt mình ngang hàng loài cầm thú trong cuộc đấu tranh
    khắc nghiệt để sinh tồn”. Ông thừa nhận rằng chỉ có một số ít tù nhân của
    Đức quốc xã là có thể giữ được những phẩm chất ấy, nhưng “chỉ cần một ví
    dụ như thế cũng đủ chứng minh rằng sức mạnh bên trong của con người có
    thể đưa người ấy vượt lên số phận nghiệt ngã của mình”.
    Frankl luôn trung thành với quan điểm: Những thế lực vượt quá khả năng
    kiểm soát của bạn có thể lấy đi mọi thứ mà bạn có, chỉ trừ một thứ, đó là sự
    tự do chọn lựa cách bạn phản ứng trước hoàn cảnh. Tôi luôn áp dụng quan
    điểm này của Frankl trong suốt cuộc đời mình cũng như trong vô số tình
    huống tư vấn. Bạn không thể kiểm soát điều gì sẽ xảy ra trong đời mình,
    nhưng bạn luôn có thể kiểm soát cách đón nhận cũng như cách phản ứng
    trước mọi tình huống của cuộc sống.
    Có một cảnh trong vở kịch Incident at Vichy (Sự cố tại Vichy) của Arthur
    Miller, trong đó, một người đàn ông trung lưu xuất hiện trước chính quyền
    Đức quốc xã, vốn đang chiếm đóng thị trấn của ông và trưng ra bằng cấp của
    mình: tấm bằng đại học, các lá thư tham khảo do những người có tiếng tăm
    viết, v.v. Tên lính Đức quốc xã hỏi ông: “Mày chỉ có thế thôi sao?”. Người
    đàn ông gật đầu. Tên lính quăng tất cả vào sọt rác và nói: “Tốt, giờ mày
    chẳng còn gì nữa”. Người đàn ông cảm thấy bị tổn thương nặng nề. Frankl
    đã nói rằng chúng ta sẽ không bao giờ mất đi tất cả nếu chúng ta vẫn còn
    được tự do lựa chọn cách phản ứng với sự việc.
    Trải nghiệm tôn giáo của tôi đã cho tôi thấy chân lý trong quan điểm của
    Frankl. Tôi biết có nhiều doanh nhân thành công sau khi nghỉ hưu, đã mất
    hết mọi nhiệt huyết với cuộc sống. Với họ, dường như ý nghĩa cuộc sống chỉ
    xoay quanh hai chữ “công việc”. Vì vậy, khi không có việc làm nữa, họ cảm
    thấy cuộc sống trở nên vô vị. Mỗi ngày qua đi, họ lặng lẽ ngồi trong nhà băn
    khoăn thấy mình “không biết làm gì”. Tôi biết nhiều người đã trưởng thành
    từ khả năng chịu đựng phi thường của họ một khi họ có lòng tin rằng những
    tai họa, nghịch cảnh của họ đang chịu đựng không vô ích. Đa phần đối với
    mọi người, việc có một lý do để sống khiến cho họ có thể chịu được Mọi
    hoàn cảnh, có thể đó là mong muốn được cùng mọi người trong gia đình
    gánh vác một trọng trách nào đó hoặc hy vọng các bác sĩ sẽ tìm ra phương
    thuốc điều trị căn bệnh của họ.
    Tuy Frankl và tôi có những trải nghiệm không giống nhau song những gì
    chúng tôi rút ra được từ những bài học cuộc sống có nhiều điểm tương đồng.
    Những quan điểm trong tập sách When bad Things Happen to Good People
    (Khi điều tồi tệ xảy ra với người tốt) có được sự tín nhiệm của độc giả bởi vì

    chúng được rút ra từ chính những trải nghiệm của tôi trong quá trình tìm
    hiểu căn bệnh dẫn đến cái chết của con trai mình. Trong khi đó, học thuyết
    về liệu pháp ý nghĩa của Frankl trình bày phương thức chữa trị vết thương
    cho tâm hồn bằng cách dẫn dắt nó đi tìm ý nghĩa cuộc sống, những trang viết
    được đúc kết từ trải nghiệm mà tác giả phải chịu ở Auschwitz đã lập tức
    nhận được sự đồng cảm và ủng hộ của độc giả. Bạn không thể tiếp nhận toàn
    bộ giá trị sâu sắc của tập sách này nếu chỉ đọc phần sau mà bỏ qua nửa đầu
    của cuốn sách.
    Một điểm rất có ý nghĩa nữa, là lời đề tựa cho ấn bản năm 1962, được viết
    bởi Gordon Allport - một nhà tâm lý học nổi tiếng, còn trong lần này, lời đề
    tựa được viết bởi một giáo sĩ. Đây là một quyển sách có bàn về những nội
    dung rất sâu sắc liên quan đến lĩnh vực tôn giáo. Nó thể hiện tư tưởng chủ
    đạo của tác giả là cuộc sống co ý nghĩa và chúng ta phải học cách nhìn cuộc
    sống theo hướng có ý nghĩa bất kể hoàn cảnh nào đi nữa. Tác phẩm cũng
    nhấn mạnh một điều: cuộc sống này có một ý nghĩa tối hậu. Và trong bản
    gốc, trước khi bổ sung phần tái bút, Frankl đã kết thúc quyển sách bằng
    những lời đậm chất tôn giáo nhất của thế kỉ hai mươi:
    Chúng ta đã đến chỗ biết được Con người thực sự là gì. Rốt cuộc, con
    người là hữu thể đã tạo ra phòng hơi ngạt ở Auschwitz, nhưng cũng là hữu
    thể hiên ngang bước vào phòng hơi ngạt với kinh Lạy Cha hoặc câu kinh
    Shema Yisrael[4] trên môi.
    HAROLD S. KUSHNER[5]

    LỜI GIỚI THIỆU CHO LẦN ẤN BẢN
    NĂM 1992
    Cho đến nay, quyển sách này được phát hành gần 100 lần bằng tiếng Anh
    và đã được xuất bản dưới 21 ngôn ngữ. Chỉ riêng các bản tiếng Anh đã được
    bán hơn 3 triệu bản.
    Những thông số trên hoàn toàn là sự thật, và có lẽ chúng là lí do tại sao
    các phóng viên của nhiều tờ báo ở Mỹ, nhất là các đài truyền hình Mỹ
    thường bắt đầu buổi phỏng vấn, sau khi đã liệt kê các con số thực tế, bằng lời
    ca tụng: “Thưa tiến sĩ Frankl, cuốn sách của ông luôn nằm trong danh sách
    những ấn phẩm được đông đảo độc giả đánh giá cao. Ông cảm thấy thế nào
    về thành công này?”. Lúc ấy tôi luôn trả lời rằng trước hết, tôi không hề xem
    tình trạng ăn khách của cuốn sách là một thành tựu hay thành công gì về phía
    bản thân tôi cho bằng đó là biểu hiện cho nỗi bất hạnh của thời đại: nếu hàng
    trăm ngàn người tìm kiếm một cuốn sách mà tiêu đề của nó hứa hẹn sẽ giải
    quyết vấn đề về ý nghĩa cuộc sống, thì đây chắc hẳn là một vấn đề gai góc
    với họ.
    Hiển nhiên, ấn tượng của cuốn sách còn nhờ đến những yếu tố khác nữa.
    Phần hai nặng tính lý thuyết hơn, và có thể nói nó đã cô đọng thành bài học
    mà người đọc có thể rút ra từ phần đầu cuốn sách, phần tự thuật. Trong khi
    đó, phần một có tác dụng như những bằng chứng xác thực, là cơ sở thực tế
    cho các lý thuyết của tôi. Như vậy, cả hai phần đều giúp cho nhau có được
    tính thuyết phục.
    Vào năm 1945, khi thực hiện tập sách này, trong đầu tôi chưa bao giờ có
    ý niệm rằng mình viết sách để trở thành người nổi tiếng hay đạt được thành
    công gì đó. Trong suốt 9 ngày liên tiếp, tôi đã trăn trở rất nhiều trước khi đi
    đến quyết định không tiết lộ tên người viết. Sự thật là, bản in đầu tiên bằng
    tiếng Đức đã không có tên tôi trên trang bìa, mặc dù vào phút cuối, trước khi
    sách được xuất bản, tôi đồng ý để tên mình trong trang tiêu đề theo lời
    khuyên của bạn bè. Trong tôi luôn đinh ninh một điều rằng một tác phẩm
    khuyết danh sẽ không thể nào đem lại tên tuổi cho tác giả. Mục đích của tôi
    đơn thuần chỉ là muốn chuyển tải đến độc giả một ví dụ cụ thể, cho thấy rằng
    trong mọi hoàn cảnh, cuộc sống bao giờ cũng chứa đựng một ý nghĩa nào đó,
    cho dù đó là hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Và tôi cho rằng nếu một quan điểm
    được minh họa từ những trải nghiệm khắc nghiệt như ở trại tập trung thì
    cuốn sách của tôi sẽ thêm tính thuyết phục. Vì vậy, tôi cảm thấy có trách

    nhiệm viết ra những gì mình đã trải qua, bởi vì tôi nghĩ rằng nó có thể giúp
    được những người đang trên bờ tuyệt vọng.
    Và vì thế, điều khiến tôi cảm thấy kì lạ và chú ý là - trong số hàng chục
    cuốn sách mà tôi là tác giả thì chính cuốn này, cuốn sách mà tôi có ý định
    giữ kín tên tuổi lại đạt được thành công. Vì vậy, rất nhiều lần, tôi đã răn bảo
    các học trò của mình ở châu Âu và ở Mỹ rằng: “Đừng nhắm vào thành công
    - vì các em càng nhắm vào nó, và muốn đạt tới nó, thì các em càng dễ trượt
    qua nó. Vì thành công, cũng giống như hạnh phúc, không thể tìm kiếm mà
    có; nó phải tự sản sinh ra, và chỉ có thể xuất hiện khi một người cống hiến
    hết mình, hoặc sống vì người khác hơn là vì bản thân mình. Hạnh phúc sẽ
    đến, và thành công cũng sẽ xuất hiện: các em phải để nó diễn ra bằng cách
    đừng quan tâm đến nó. Tôi muốn các em lắng nghe những gì mà lương tâm
    các em ra lệnh phải làm và tiếp tục thực hiện hết mình. Và các em sẽ thấy
    rằng về lâu dài - tôi nhấn mạnh là về lâu dài - thành công sẽ đến với các em
    bởi vì các em đã quên nghĩ về nó!”.
    Các độc giả có thể thắc mắc tại sao tôi không tìm cách thoát ly sau khi
    Hitler chiếm Áo. Hãy để tôi trả lời bằng cách kể lại câu chuyện sau. Ngay
    trước khi nước Mỹ tham chiến, tôi nhận được thư mời đến Lãnh sự quán Mỹ
    đặt tại Vienna để nhận giấy thị thực nhập cảnh đến Mỹ. Cha mẹ tôi rất vui
    mừng vì họ muốn tôi nhanh chóng rời khỏi nước Áo. Thế nhưng tôi bỗng
    nhiên do dự: Liệu tôi có thể để cha mẹ ở lại một mình đối mặt với số phận,
    và chẳng sớm thì muộn, họ cũng sẽ bị đưa đến trại tập trung, hoặc thậm chí
    bị đưa đến trại hủy diệt? Lẽ nào tôi là một người vô trách nhiệm? Liệu tôi có
    nên đi đến một vùng đất trù phú, có những điều kiện thuận lợi giúp tôi nuôi
    dưỡng đứa con tinh thần của mình - Liệu pháp ý nghĩa (logotherapy)? Hay
    tôi nên nhận lãnh trách nhiệm của một người con hiếu thuận đối với cha mẹ những người đã không tiếc cả mạng sống của mình để bảo vệ tôi? Tôi đã đắn
    đo, trăn trở rất nhiều nhưng vẫn không thể đưa ra quyết định cuối cùng. Đây
    đúng là tình huống khó khăn như khi người ta chỉ được ước một lần.
    Chính khi đó, tôi trông thấy một mẩu đá hoa nằm trên mặt bàn. Tôi hỏi
    cha, và ông giải thích rằng ông đã tìm thấy nó tại nơi mà những người theo
    Đảng Xã hội quốc gia đã thiêu cháy thánh đường lớn nhất của người Do
    Thái tại Vienna. Mẩu đá cha tôi mang về nhà là một phần của những phiến
    đá có khắc Mười điều răn của Chúa, trong đó có một ký tự tiếng Hebrew mạ
    vàng được khắc trên phiến đá; cha tôi nói rằng ký tự này đại diện cho một
    trong Mười điều răn. Tò mò, tôi hỏi ông: “Thưa cha, điều răn đó nói gì ạ?”.
    Ông trả lời: “Hãy tôn kính cha mẹ, để ngươi được sống lâu trên đất”. Vào lúc
    đó, tôi đã quyết định ở lại với cha mẹ của mình trên mảnh đất này, và tấm vé
    thị thực nhập cảnh sang Hoa Kỳ đã không có cơ hội được dùng đến.

    VIKTOR E. FRANKL
    Vienna - Áo, 1992

    PHẦN 1
    NHỮNG TRẢI NGHIỆM TRONG TRẠI
    TẬP TRUNG
    Quyển sách này không hướng đến việc thuật lại những sự việc, sự kiện
    lịch sử mà đây là tập sách viết về những trải nghiệm của cá nhân tôi, cũng là
    những trải nghiệm mà hàng triệu tù nhân trong trại tập trung của Phát xít
    Đức đã phải chịu đựng trong suốt một khoảng thời gian dài. Đây là câu
    chuyện trong một trại tập trung, được một trong số những người sống sót kể
    lại. Tập sách này không chú trọng những điều ghê rợn kinh hoàng, vốn được
    mô tả khá nhiều (tuy rất ít người tin), mà nó viết về những nỗi dày vò nho
    nhỏ. Nói cách khác, cuốn sách sẽ tìm cách trả lời câu hỏi: Các tù nhân nghĩ
    về cuộc sống hàng ngày trong trại tập trung như thế nào?
    Hầu hết các sự kiện được mô tả ở đây không xảy ra tại các trại tập trung
    lớn và nổi tiếng mà ở trong những trại tập trung nhỏ, nơi hầu hết các sự cách
    ly thực sự diễn ra. Câu chuyện này không phải nói về nỗi đau và cái chết của
    những anh hùng và liệt sĩ, cũng không nói về các Capo nhiều đặc ân - hay về
    những tù nhân nổi tiếng. Vì vậy, nó không tập trung nhiều vào nỗi đau của
    những con người mạnh mẽ, mà nó tập trung vào những hy sinh, sự giày vò
    và cái chết của số đông những nạn nhân vô danh mà không một tài liệu nào
    ghi nhận. Họ chính là những người tù thông thường, những người không có
    dấu hiệu đặc biệt trên tay áo, và bị các Capo coi thường. Trong khi những tù
    nhân bình thường này không đủ ăn hoặc không có gì để ăn thì các Capo
    không bao giờ biết đói; thực ra cuộc sống của nhiều Capo trong trại còn tốt
    hơn cuộc sống bên ngoài của họ. Chính họ thường gây khó dễ với tù nhân
    hơn là các lính canh, và cũng chính họ đánh đập các tù nhân tàn bạo hơn lính
    SS (Đội bảo vệ của quan Phát xít). Dĩ nhiên những Capo này chỉ được chọn
    từ những người tù có tính cách phù hợp với yêu cầu công việc. Nếu họ
    không đáp ứng những gì đội ngũ lãnh đạo trông chờ thì ngay lập tức họ sẽ bị
    đào thải. Vì vậy, khi được chọn, họ sẽ nhanh chóng trở nên tàn nhẫn giống
    những tên lính SS và các trại trưởng. Càng độc ác và tàn bạo, các Capo càng
    được cấp trên đánh giá cao.
    Những người bên ngoài thường có cái nhìn chưa đúng về cuộc sống trong
    trại - họ thường nhìn nhận về cuộc sống của các tù nhân bằng con mắt xót
    xa, thương cảm. Họ hoàn toàn không biết rõ về cuộc đấu tranh sinh tồn vô
    cùng khắc nghiệt giữa các tù nhân. Đây là một cuộc đấu tranh không ngơi

    nghỉ vì miếng ăn hàng ngày, vì sự sống còn, vì lợi ích của bản thân hay vì
    một người bạn tù.
    Hãy lấy trường hợp vận chuyển tù nhân làm một ví dụ. Việc vận chuyển
    thường được thông báo chính thức để đưa một số tù nhân đến một trại khác;
    nhưng không khó để dự đoán rằng đích đến của những chuyến đi này có thể
    là phòng hơi ngạt. Một nhóm những tù nhân bị bệnh hoặc không còn khả
    nằng làm việc sẽ được chọn ra để đưa đến một trại tập trung lớn hơn, nơi có
    trang bị phòng hơi ngạt và lò thiêu. Thông cáo tuyển chọn là dấu hiệu báo
    trước sẽ có một cuộc ẩu đả hỗn loạn giữa các tù nhân hoặc giữa các nhóm
    với nhau. Điều quan trọng là sau những trận quyết chiến sống còn này, tên
    của một vài tù nhân sẽ được loại ra khỏi danh sách các nạn nhân, mặc dù mọi
    người đều biết rõ rằng với mỗi một người được cứu thoát thì sẽ có một nạn
    nhân khác bị thế vào.
    Có một lượng tù nhân nhất định trên mỗi lượt vận chuyển, nhưng ở đây
    số lượng không phải là vấn đề bởi vì mỗi tù nhân chẳng còn lại gì ngoài một
    con số. Lúc nhập trại, tất cả giấy giấy tờ cũng như những vật sở hữu của họ
    đều đã bị tịch thu (ít ra đây là cách thức ở Auschwitz). Vì vậy, mỗi tù nhân
    có cơ hội để nói đại một cái tên hoặc một nghề nghiệp nào đó; và vì nhiều lý
    do nhiều người đã làm thế. Những người phụ trách trại chỉ quan tâm đến các
    số tù. Những con số này thường được xăm lên da của tù nhân, khâu lên một
    nơi nào đó trên quần hoặc áo khoác của họ. Bất cứ lính canh nào muốn
    hoạnh họe tù nhân thì chỉ cần liếc nhìn con số ấy (ánh nhìn đó thật đáng sợ);
    hắn chẳng bao giờ cần hỏi tên của người tù ấy làm gì.
    Trở về với cuộc vận chuyển, ở đây không có thời gian lẫn nhu cầu xem
    xét các vấn đề về đạo lý. Mỗi người chỉ có một suy nghĩ trong đầu: cố gắng
    sống sót vì gia đình đang chờ mình ở nhà, và cứu các bạn mình. Vì vậy,
    người đó sẽ không do dự khi tìm cách dàn xếp cho một tù nhân khác - một
    “con số” khác - thế chỗ cho mình trên chuyến vận chuyển đó.
    Như tôi đã đề cập trước đó, quy trình chọn ra các Capo là một quy trình
    tiêu cực; chỉ những tù nhân hung bạo nhất mới được chọn để làm những
    công việc này (mặc dù cũng có những ngoại lệ thú vị). Nhưng ngoài việc
    tuyển chọn các Capo được lực lượng SS tiến hành, còn có một loại quá trình
    tự tuyển chọn luôn diễn ra giữa các tù nhân. Nhìn chung, chỉ còn những tù
    nhân như thế mới có thể sống sót, những người sau nhiều năm lê lết từ trại
    này sang trại khác, đã đánh mất mọi cảm thức lương tâm trong cuộc chiến
    sống còn. Họ sẵn sàng sử dụng bất cứ cách thức nào, trung thực hay không,
    thậm chí tàn bạo, trộm cướp và phản bội bạn bè của họ để giữ lại mạng sống
    cho mình. Những người được trở về nhờ vào sự may mắn hoặc một phép
    màu nào đó hay vì lý do gì đi nữa như chúng tôi đều biết rằng: những điều

    tốt đẹp nhất trong chúng tôi đã không bao giờ trở lại. Đã có nhiều trình thuật
    về những dữ kiện xảy ra trong các trại tập trung. Ở đây, các sự việc chỉ có ý
    nghĩa nếu chúng là một phần trải nghiệm của con người. Khảo luận sau đây
    sẽ cố gắng miêu tả bản chất đích thực của các trải nghiệm ấy. Đối với những
    bạn tù của tôi, tôi sẽ cố gắng khắc họa những trải nghiệm của họ theo cách
    hiểu hiện nay. Và với những người chưa từng ở trại, những miêu tả của tôi
    có thể giúp họ hiểu và hiểu rõ hơn những trải nghiệm của rất ít tù nhân sống
    sót và đang gặp khó khăn với cuộc sống hiện tại. Thông thường, họ không
    muốn nói về những trải nghiệm ấy. Họ không cần một lời giải thích nào,
    cũng như những người khác sẽ không thể hiểu được cảm nhận của họ khi ấy
    cũng như bây giờ.
    Tôi đã nỗ lực trình bày một cách hệ thống về chủ đề này, nhưng thật sự
    đây là một việc rất khó, bởi vì tâm lý học cần sự nhận xét khách quan, khoa
    học. Liệu những quan sát, nghiên cứu từ một tù nhân có đủ sự khách quan
    cần thiết hay không? Những người ở ngoài trại tất nhiên sẽ có cái nhìn khách
    quan hơn, nhưng họ lại không có đủ trải nghiệm thực tế để có thể đưa ra
    nhận định về chân giá trị từ cuộc sống của những con người từng phải chịu
    đựng bao đau đớn cùng cực. Chỉ có người trong trại mới hiểu được. Trong
    tác phẩm của mình, tôi cố gắng không áp đặt bất kỳ ý niệm chủ quan nào, và
    đó là điều thực sự khó khăn đối với một cuốn sách như thế này. Để nói lên
    những trải nghiệm rất riêng của bản thân đôi khi cần phải có dũng khí. Tôi
    đã định viết cuốn sách này mà không công bố tên tác giả, chỉ sử dụng số hiệu
    trong tù của mình. Nhưng khi bản thảo hoàn thành, tôi nhận thấy rằng, khi
    công bố sách mà giấu tên người viết thì cuốn sách sẽ bị giảm phân nửa giá
    trị. Tôi cần phải chịu trách nhiệm với đứa con tinh thần của mình, và trước
    hiện thực lịch sử. Tôi có thể khẳng định tôi là người không hề thích phô bày
    sự việc, song trong quá trình thực hiện tập sách này, tôi giữ quan điểm trung
    thành với hiện thực lịch sử, không cắt xén cũng không thêu dệt.
    Tôi sẽ nhường phần phán xét cho các bạn - những độc giả đáng mến. Các
    bạn có thể tự rút ra những luận điểm lý thuyết khô khan sau khi tìm hiểu nội
    dung của cuốn sách. Những luận điểm này có thể góp phần vào việc nghiên
    cứu tâm lý của người tù, được tiến hành từ sau Thế chiến thứ nhất; những
    luận điểm này cũng không xa lạ với chúng tôi qua “hội chứng dây kẽm gai”.
    Nhìn từ góc độ tích cực, Thế chiến thứ hai đã giúp giới nghiên cứu chúng tôi
    bổ sung thêm kiến thức về “tâm lý học đại chúng” (xin phép được trích dẫn
    thuật ngữ khá nổi tiếng và cũng là tựa đề một cuốn sách của LeBon). Cuộc
    chiến ngoài đời cũng đã đem lại cho chúng tôi cả trại tập trung lẫn cuộc
    chiến của các sợi thần kinh.
    Mục đích tôi viết tập sách này là muốn nói lên những trải nghiệm của tôi

    với tư cách là một tù nhân bình thường. Tôi có thể tự hào khi tuyên bố rằng
    tôi không được tuyển vào trại với tư cách của một chuyên gia tâm thần hay
    như một bác sĩ, ngoại trừ những tuần cuối trong trại. Một số đồng nghiệp của
    tôi khá may mắn khi được chọn vào làm việc trong các trạm sơ cứu nóng
    bức, thiếu thốn, sử dụng các miếng băng gạc đượng làm từ đống giấy thải.
    119.104 là số hiệu của tôi trong trại, công việc của tôi gắn liền với chiếc
    xẻng đào đất và dụng cụ lắp ráp các thanh sắt trên đường ray xe lửa. Có lần,
    tôi được phân công đào hầm một mình để tạo đường nước ngầm bên dưới
    con đường và tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Với thành tích này, chỉ ngay trước
    lễ Giáng sinh năm 1944, tôi đã được tưởng thưởng một món quà mà mọi
    người thường gọi là “phiếu ưu đãi”. Những phiếu này do một công ty xây
    dựng phát hành, chúng tôi buộc phải làm việc cho công ty này như những nô
    lệ. Tiền công mỗi ngày của mỗi tù nhân sẽ được trả cho các trại trưởng, có
    khi được thanh toán dưới dạng những tấm phiếu ưu đãi. Mỗi tấm phiếu này
    có giá trị tương đương với 50 xu Đức thời đó và có thể dùng để đổi lấy sáu
    điều thuốc, nhưng thường là sau nhiều tuần lao động cực nhọc những tấm
    phiếu này mới đến tay chúng tôi, và đôi khi chúng không còn hiệu lực nữa.
    Tôi tự hào trở thành người sở hữu những tấm phiếu có giá trị tương đương
    12 điếu thuốc. Nhưng quan trọng hơn là những điếu thuốc có thể đổi được
    12 phần xúp, và 12 phần xúp thực sự giúp tôi chống chọi với cơn đói.
    Thực ra, đặc quyền hút thuốc được dành cho các Capo - những người có
    được mức phiếu tiêu chuẩn mỗi tuần; hoặc có thể dành cho một tù nhân làm
    quản đốc trong nhà kho hoặc phân xưởng, được nhận một số điếu thuốc để
    làm những công việc nguy hiểm. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là dành cho
    những người đã mất đi ý chí sinh tồn và muốn “tận hưởng” những ngày cuối
    cùng. Vì vậy, khi chúng tôi nhìn thấy một người đang được bao quanh bởi
    làn khói thuốc mờ đục như chìm trong cõi vô thức thì chúng tôi biết rằng anh
    ấy đã từ bỏ niềm tin, và một khi niềm tin ấy đã mất đi thì lòng ham sống
    cũng không còn nữa.
    Khi kiểm tra vô số tài liệu được tích lũy từ nhiều quan sát và trải nghiệm
    của các tù nhân, ta sẽ thấy rõ ba giai đoạn phản ứng tinh thần của người tù
    đối với cuộc sống trong trại: giai đoạn đầu sau khi nhập trại; giai đoạn khi đã
    quen với cuộc sống trong trại; và giai đoạn sau khi được thả tự do.
    Triệu chứng đặc trưng cho giai đoạn đầu là việc bị sốc. Trong một số
    hoàn cảnh nhất định, cú sốc diễn ra trước cả khi các tù nhân nhập trại. Tôi sẽ
    đưa ra ví dụ về việc nhập trại của tôi:
    Một nghìn năm trăm người được vận chuyển bằng xe lửa trong nhiều
    ngày đêm: có tám mươi người ở mỗi toa xe. Tất cả đều phải ngồi lên hành lý
    của mình - đây là số tài sản cá nhân ít ỏi còn sót lại. Các toa xe chật đến nỗi

    ánh bình minh xám xịt chỉ có thể xuyên vào khe hở ở phía trên cửa sổ. Mọi
    người đều mong muốn chuyến xe sẽ đưa họ đến một nhà máy sản xuất vũ
    khí - nơi họ sẽ được làm việc như những lao động bắt buộc. Chúng tôi không
    biết mình còn đang ở Silessia hay đã đến Ba Lan rồi. Tiếng rít của động cơ
    thật quái đản, giống như một tiếng cầu cứu được gửi ra từ chuyến đi bất hạnh
    đang hướng đến đại ngục. Chiếc xe đột nhiên chuyển hướng, rõ ràng nó đang
    tới gần trạm. Thình lình, một tiếng khóc bật lên từ giữa những con người
    đang lo lắng: “Có bảng hiệu kìa, Auschwitz!”. Tim tất cả mọi người như
    ngừng đập vào lúc ấy. Auschwitz - một cái tên gợi lên tất cả những gì khủng
    khiếp nhất: phòng hơi ngạt, lò thiêu, sự chết chóc. Chiếc xe ì ạch trên đường
    như thể nó muốn cho hành khách của mình tránh được càng lâu càng tốt cái
    thực tại đáng sợ đang ùa đến: Auschwitz!
    Bóng đêm dần khuất dạng, những đường nét của một trại giam khổng lồ
    dần hiện ra: hàng rào kẽm gai lưới điện; những tháp canh; những chiếc đèn
    pha; và hàng dãy những người ăn mặc rách rưới lờ mờ hiện lên trong buổi
    hừng đông u ám, lê bước trên những con đường hoang phế đến một nơi mà
    chúng tôi không hề biết. Có những tiếng la hét và tiếng còi ra lệnh. Chúng
    tôi không hiểu gì cả. Trí tưởng tượng của tôi hình dung ra chiếc giá treo cổ
    với những xác người đang giãy giụa. Tôi khiếp sợ, nhưng cũng chẳng sao,
    bởi vì từ từ rồi chúng tôi cũng phải quen với cảnh khiếp sợ và ghê rợn ấy
    thôi.
    Cuối cùng, chúng tôi tiến vào trạm. Không gian yên ắng trước đó đã bị
    phá vỡ bởi nhiều tiếng quát tháo ra lệnh. Kể từ đây, chúng tôi sẽ phải nghe
    những âm thanh khản đục, gào thét không ngừng vọng ra từ tất cả các trại.
    Những âm thanh này nghe như tiếng thét cuối cùng của nạn nhân, nhưng có
    phần còn thảm thiết hơn thế nữa. Nó là âm thanh gay gắt, khản đục, như thể
    được phát ra từ cổ họng của một người cứ phải rên thét mãi, một người đã bị
    tra tấn, hành hạ đến mức chết đi sống lại không biết đã bao nhiêu lần. Cửa
    mở, một số tù nhân bên trong trại ùa đến. Họ mặc những bộ đồng phục có
    sọc vằn, đầu cạo trọc, nhưng trông họ khá khỏe mạnh. Các tù nhân ở đây đến
    từ các quốc gia châu Âu khác nhau, có người chỉ biết tiếng mẹ để của mình,
    vì thế họ cố gắng trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ riêng của mình. Trong
    hoàn cảnh cận kề cái chết này, những giọng nói đa quốc gia ấy khiến tôi cảm
    thấy tức cười, thậm chí kỳ quái. Giống như người chết đuối nắm được một
    khúc cây, tính lạc quan bẩm sinh của tôi (thật may mắn là trong những tình
    huống tuyệt vọng nhất, phẩm chất này trong tôi thường xuất hiện) đưa tôi
    đến suy nghĩ: Những tù nhân này trông hoàn toàn khỏe mạnh, họ có vẻ khá
    thoải mái và thậm chí còn cười đùa được. Biết đâu mình cũng sẽ được như
    họ.

    Trong tâm lý học, đây là một trạng thái được gọi là chứng “ảo tưởng miễn
    tội”. Người bị kết án, trước khi bị hành quyết, có ảo tưởng rằng mình sẽ
    được ân xá vào phút cuối. Chúng tôi cũng cố bám víu vào tia hy vọng ấy và
    tin rằng sự việc cũng sẽ không đến nỗi quá tệ. Việc nhìn thấy đôi má hồng
    hào, khuôn mặt đầy đặn của những tù nhân này là khích lệ đáng kể đối với
    chúng tôi. Sau này chúng tôi mới biết chút ít rằng họ là những người được
    chọn để thành lập một đội đặc biệt, trong nhiều năm chuyên tiếp nhận các tù
    nhân mới được chuyển vào trại mỗi ngày với số lượng và tần suất càng tăng.
    Những người thuộc đội kiểm tra này chịu trách nhiệm lục soát những người
    mới đến bao gồm cả hành lý, vật dụng quý giá và nữ trang mà những người
    bị bắt đã lén mang theo. Như vậy, những đồ vật độc đáo bằng vàng, bạc,
    bạch kim và kim cương không chỉ nằm trong những kho lưu trữ chiến lợi
    phẩm của Đức quốc xã mà còn ở trong tay của lính SS.
    Một ngàn rưỡi người bị giam trong một khu được xây dựng có sức chứa
    tối đa khoảng hai trăm người. Chúng tôi lạnh và đói. Không đủ chỗ cho mỗi
    người ngồi trên nền đất trống, nói chi chỗ đề ngả lưng. Khẩu phần ăn của
    chúng tôi trong suốt bốn ngày chỉ là một mẩu bánh mì ít ỏi. Rồi tôi nghe các
    tù nhân lâu năm đảm trách việc trông coi trại mặc cả với một người trong
    nhóm tiếp nhận về một cái kẹp cà vạt bằng bạch kim đính kim cương. Đến
    cả những chiến lợi phẩm cuối cùng họ chia nhau cũng được dùng để đổi lấy
    rượu - rượu sơ-náp[6]. Tôi không nhớ rõ cần bao nhiêu ngàn mác Đức để đổi
    lấy lượng rượu sơ-náp đủ cho một “tối vui vẻ” nữa, nhưng tôi biết rõ rằng
    các tù nhân lâu năm đó cần rượu sơ-nap. Trong những hoàn cảnh như thế
    này, ai có thể trách họ về việc say sưa chứ? Có một nhóm tù nhân khác được
    lính SS cung cấp rượu không hạn chế: họ là những người được tuyển dụng
    làm việc trong các phòng hơi ngạt và lò thiêu. Họ biết rõ một ngày nào đó họ
    sẽ bị thay thế bởi một nhóm khác và phải rời bỏ vai trò kẻ hành quyết miễn
    cưỡng để chính họ trở thành nạn nhân.
    Hầu như mọi người đi cùng tôi trong chuyến xe tử thần ấy đều sống trong
    ảo tưởng rằng họ sẽ được ân xá, rằng mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp. Chúng tôi đã
    không nhận thấy sự thật trần trụi đằng sau những cảnh tượng nối tiếp ngay
    sau đó. Chúng tôi bị yêu cầu để lại hành lý trong xe và bước xuống xếp
    thành hai hàng - phụ nữ một bên, đàn ông một bên - để một tên lính SS cấp
    cao kiểm tra chúng tôi. Giờ đây nghĩ lại, tôi vẫn ngạc nhiên vì khi đó tôi đã
    có đủ can đảm để giấu chiếc ba lô vào bên trong chiếc áo khoác. Từng người
    một trong hàng bị lục soát. Thật nguy hiểm nếu một lính SS nào đó phát hiện
    chiếc ba lô của tôi. Kinh nghiệm cho tôi biết, nếu bị lộ, ít nhất tôi sẽ bị đánh
    tơi tả. Theo bản năng, tôi thẳng người tiến đến chỗ tên lính chịu trách nhiệm
    kiểm soát tù nhân để hắn không chú ý đến dáng vẻ nặng nhọc do chiếc ba lô

    của tôi gây ra. Rồi tôi cũng đối mặt với hắn. Hắn có dáng người cao ốm, vừa
    vặn trong bộ đồng phục mới nguyên. Bộ dạng...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS PHONG XUÂN - PHONG ĐIỀN - TT HUẾ!