BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ TRƯỜNG THCS PHONG XUÂN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    CHÂM NGÔN HÔM NAY

    Một cuốn sách hay dạy tôi nhiều điều hơn là đọc nó. Tôi phải nhanh chóng đặt nó xuống, bắt đầu sống theo những điều mà sách chỉ dẫn. Tôi khởi đầu bằng cách đọc và tôi phải kết thúc bằng hành động. (Henry David Thoreau)

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z5393809506254_97ec461a832bee5369f19b7573c2d128.jpg Z5393809511555_fc1e3767d367f26afa30d4a9bda1ebd3.jpg Z5393809515888_d526de519a7e5c31ce7d60d1fb672939.jpg Z5393809500301_2d696499cbf1281cd4d689e1c004f43d.jpg

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Ngan nam ao mu

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Lan (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:18' 30-04-2024
    Dung lượng: 8.2 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Ngàn Năm Áo Mũ
    Bản quyền tác phẩm © Trần Quang Đức, 2013
    Ảnh và tranh minh họa do tác giả chụp, vẽ và sưu tập.
    Xuất bản theo hợp đồng sử dụng tác phẩm giữa Công ty Văn hóa và Truyền thông
    Nhã Nam và tác giả Trần Quang Đức, 2013
    Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ. Mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phân phối dưới dạng
    in ấn hoặc văn bản điện tử, đặc biệt là việc phát tán trên mạng Internet mà không có sự cho
    phép bằng văn bản của Nhà xuất bản là vi phạm pháp luật và làm tổn hại đến quyền lợi của
    nhà xuất bản và tác giả. Không ủng hộ, khuyến khích những hành vi vi phạm bản quyền.
    Chỉ mua bán bản in hợp pháp.

    Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
    Trần Quang Đức
    Ngàn năm áo mũ / Trần Quang Đức. - H. : Thế giới ; Công ty Văn hoá và Truyền thông
    Nhã Nam, 2013. - 397tr. : ảnh, tranh ; 25cm
    1. Trang phục truyền thống 2. Việt Nam
    391.009597 - dc14
    TGH0007p-CIP

    LỜI CẢM ƠN

    LỜI TỰA 1

    Ngàn năm áo mũ chắc chắn không thể hoàn thành sớm nếu không

    Ở nước ta, trước nay khi muốn tìm hiểu văn hóa cổ của dân tộc,

    có sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía những người bạn, người đồng nghiệp

    nhất là về cách ăn mặc, người ta không biết phải trông vào đâu. Các sách

    của chúng tôi.

    cổ như Lịch triều hiến chương hay các sách Khâm định, Hội điển đôi khi

    Nay nhân dịp cuốn sách được ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin cảm
    ơn các anh chị Trịnh Bách, Lý Tiệp, Philippe Trương, Nguyễn Lân

    có nhắc đến một vài kiểu y phục, mũ mão, nhưng cũng chỉ sơ lược, và
    thường không có hình ảnh dẫn chứng.

    Cường, Nguyễn Như Đan Huyền, Nomura Chosho, Nguyễn Quang

    Các tác phẩm trên được viết với mục đích áp dụng cho người đương

    Duy, Nguyễn Nhật Anh, Nguyễn Thành Đạt, Đỗ Thận Tuấn, Nguyễn

    thời, chứ không phải là sử liệu hay tài liệu văn hóa cho đời sau. Hơn nữa,

    Thế Bách, Nguyễn Thị Dung, Tô Lan, Trần Văn Quyến, Nguyễn Phát

    trong thời đại của các cổ tác gia đó, khi những kiểu loại trang phục được

    Hà Giang, Chihiro Motohiro, Hồ Như Ý, là những người đã sao chụp,

    nhắc đến trong sách của họ vẫn còn thông dụng, tên gọi họ liệt kê vẫn là

    cung cấp tư liệu cho chúng tôi. Đặc biệt, Lý Tiệp còn là người giúp

    các vật dụng đời thường, thì việc giải thích về chúng là không cần thiết.

    chúng tôi thực hiện một số tranh vẽ phục dựng.

    Tỉ dụ như ngày nay có mấy ai cần phải được giảng giải mới biết thế nào

    Chúng tôi xin chân thành cảm ơn anh Đinh Thanh Hiếu, Trịnh
    Bách, Đoàn Ánh Dương, những người đã tận tình hiệu đính bản thảo,

    là cái áo dài hay chiếc nón lá. Nhưng tương tự, vài năm nữa đây phần
    đông giới trẻ sẽ không mường tượng nổi cái áo đại cán như thế nào.

    bác Đỗ Lai Thúy, bác Dương Trung Quốc, anh Nguyễn Mạnh Tiến, chị

    Văn hóa trang phục truyền thống Việt Nam bị mất dấu tích sâu

    Quách Hiền, anh Đặng Hải Quang những người đã có nhiều sự quan

    đậm nhất khi nền văn hóa Tây phương do người Pháp đưa vào được áp

    tâm và giúp đỡ chúng tôi trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ.

    đặt triệt để lên xã hội Việt Nam. Tiếp theo đó là sự đổi thay của lịch sử và

    Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn các anh Nguyễn Hữu Chiến,

    ý thức hệ. Những biến động xã hội ấy khiến cho ngày nay không ai còn

    Nguyễn Hồng Minh, Nguyễn Quang Huy cùng công ty PMC, công ty BFS

    biết ông bà ta ngày xưa ăn mặc, sinh sống như thế nào. Và khi cần tái

    đã tài trợ cho công trình nghiên cứu này.

    hiện lối ăn mặc của người Việt trong quá khứ, người ta “sáng tác” một

    Chúng tôi xin gửi lời tri ân tới ban lãnh đạo cùng các anh chị phòng

    cách tùy tiện.

    Tu thư, phòng Chế bản thuộc Công ty Văn hóa và Truyền thông Nhã

    Phim ảnh là phương tiện truyền bá văn hóa cho giới trẻ hữu hiệu và

    Nam, những người đã tạo nhiều điều kiện cho sự ra đời cuốn sách này.

    trực tiếp, nhưng hiện nay nhiều bộ phim hay vở kịch tái hiện lịch sử lại

    Chúng tôi đặc biệt cảm ơn chị Nguyễn Hoàng Diệu Thủy, biên tập viên

    có phục trang truyền thống khác nhau. Rồi gần đây khi sự giao lưu văn

    chính của cuốn sách, chị Mai Thị Mai, người trực tiếp trình bày cuốn

    hóa trở nên dễ dàng thì trang phục truyền thống Việt Nam trong phim

    sách, và anh Tạ Quốc Kỳ Nam, họa sĩ thiết kế bìa sách.

    ảnh và trên sân khấu lại mang đậm dấu ấn của phim ảnh Trung Quốc.
    Đây là đợt hủy diệt nguy hiểm hơn hết cho kiến thức về lịch sử văn hóa

    Hà Nội, cuối xuân năm Quý Tỵ 2013
    Trần Quang Đức

    áo mũ truyền thống của giới trẻ Việt Nam.

    LỜI TỰA 2

    Thiên Quan nghĩa trong Kinh Lễ có câu: “Phàm người mà có thể
    Vì thế việc ra đời của quyển sách Ngàn năm áo mũ là một sự cứu rỗi
    may mắn. Có lẽ đây là một trong những tập tài liệu văn hóa, lịch sử trang
    phục được nghiên cứu sâu và được biên soạn kỹ nhất ở Việt Nam, nếu
    không nói là quốc tế, cho đến nay. Tác giả với vốn liếng ngoại ngữ và cổ
    văn rất cao đã bỏ ra nhiều năm lăn lộn, tìm tòi ở các thư viện cũng như
    dân gian ở Việt Nam và các nước, nhất là Trung Quốc, để có được những
    tài liệu quý giá và chính xác đúc kết nên tác phẩm này.
    Khi đọc Đại Việt sử ký toàn thư hay Lịch triều hiến chương loại chí
    chẳng hạn, cái “Đinh tự cân”, hay mũ chữ “đinh” phổ biến suốt mấy thế
    kỷ trong xã hội Việt Nam xưa đã làm điên đầu độc giả ngày nay. Hay thắc
    mắc về kiểu cắt tóc mười phân của các đời Lý, Trần, Lê, hoặc hồng bào
    của các hoàng đế Việt trước “thiên triều”. Và rất nhiều những loại áo, mũ
    nữa. Tất cả được tác giả giải thích với minh chứng khoa học và minh họa
    chính xác trong tập nghiên cứu Ngàn năm áo mũ này.
    Xin chân thành cảm ơn tác giả Trần Quang Đức vì đã bỏ công sức
    khổ nhọc và thì giờ quý báu nhưng xứng đáng của anh trong việc biên
    soạn quyển sách dầy giá trị này.

    là người cho đúng nghĩa là nhờ lễ nghĩa, mà mở đầu của lễ nghĩa là ở
    dung thể được đoan chính, nhan sắc được trang nghiêm, lời nói được
    cung thuận. Dung thể đoan chính, nhan sắc trang nghiêm, lời nói cung
    thuận thì sau lễ nghĩa mới đầy đủ, để chính đạo vua tôi, thân đạo cha
    con, hòa đạo lớn nhỏ. Đạo vua tôi chính, đạo cha con thân, đạo lớn nhỏ
    hòa rồi sau lễ nghĩa mới lập. Cho nên đội mũ rồi sau trang phục mới đầy
    đủ, trang phục đầy đủ rồi sau dung thể mới đoan chính, nhan sắc mới
    trang nghiêm, lời nói mới cung thuận. Cho nên nói rằng lễ đội mũ là mở
    đầu của lễ, vì thế thánh vương thời cổ rất coi trọng lễ đội mũ”.
    Cổ nhân cho rằng trang phục là một phần quan trọng, thậm chí là
    mở đầu của lễ, cũng tức là văn minh, để con người đúng nghĩa là con
    người, khác với cầm thú.
    Nước ta vốn xưng là nước văn hiến, các chính thể quân chủ lịch
    triều đều có khát vọng muốn xây dựng ở cõi Nam một hệ thống điển
    chương chế độ “không kém” (vô tốn) Hoa Hạ (Trung Quốc), và hầu cũng
    tự hào đã từng là chốn “lễ nhạc y quan sở tụy, thanh danh văn vật sở đô”
    (nơi tụ hội mũ áo lễ nhạc, văn vật thanh danh). Vật đổi sao dời, ngày nay
    nhìn lại, sinh sau nghìn năm mà muốn nói chuyện nghìn năm trước,

    Hà Nội, ngày 19.2.2013
    Trịnh Bách

    cũng không phải dễ dàng. Giờ đây muốn khảo lại y quan của cổ nhân,
    ngõ hầu không thẹn như Tịch Đàm vong tổ, thì văn hiến không đủ, văn
    vật cũng thưa, chỉ biết trông vào những ghi chép của các bậc tiền nhân
    như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, Phạm Đình Hổ v.v. hay chính sử, hội
    điển các vương triều, nhưng chữ nghĩa kỳ khu, danh vật xa cách, cũng
    thật khó mà hình dung tưởng tượng ra được.
    Trần Quang Đức tiên sinh dành tâm huyết mấy năm để truy khảo
    mũ áo nghìn năm. Ông có nhã ý đưa tôi xem bản thảo. Là người có học
    chút ít chữ nho, thích truy tìm cổ điển, được cuốn sách của ông đưa vào

    MỤC LỤC

    PHÀM LỆ................................................. 13
    TỰ LUẬN................................................. 15

    thế giới y quan văn vật của cổ nhân, với tôi có sức hấp dẫn lạ thường. Với
    một tư duy mạch lạc, lập luận chặt chẽ, tư liệu phong phú, kết hợp thư
    tịch với đồ hình, ảnh tượng, sách vở với thực tế, tham chiếu cả trục thời
    gian, không gian, cuốn sách có thể xem là đã góp phần “minh trưng”cho
    điển chương văn vật của nước Việt ta, và chắc hẳn sẽ là tư liệu cần thiết
    cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.
    Trần quân thông minh vốn sẵn tính trời, được đào tạo căn cơ, trong
    điều kiện mới có nhiều thuận lợi, kết hợp với tâm huyết của một người
    hiếu cổ nên đã làm được điều người trước muốn mà chưa làm được.
    Đó là điều mà tôi thành tâm tán thán và chia vui cùng tác giả, còn
    nói là viết Tựa thì tôi đâu dám!
    Hà Nội, tháng Mạnh xuân năm Quý Tỵ 2013
    Đinh Thanh Hiếu

    TỔNG QUAN..........................................19
    I. TỔNG QUAN TRANG PHỤC CUNG
    ĐÌNH VIỆT NAM.................................... 19
    1. Những tư tưởng ảnh hưởng đến văn
    hóa trang phục cung đình Việt Nam..... 19
    1.1. Tư tưởng Đế vương.......................... 19
    1.2. Quan niệm Hoa di........................... 23
    2. Lược sử trang phục cung đình Việt
    Nam......................................................... 34
    II. TỔNG QUAN TRANG PHỤC DÂN
    GIAN VIỆT NAM..................................... 40
    Phụ lục. Biện di luận.............................. 45

    CHÍNH VĂN.......................................... 49
    Chương I. TRANG PHỤC THỜI LÝ........ 49
    I. Trang phục hoàng đế.......................... 53
    1. Lễ phục................................................ 53
    2. Thường phục....................................... 60
    3. Tiện phục............................................ 66
    II. Trang phục bá quan........................... 71
    1. Lễ phục................................................ 71
    2. Triều phục........................................... 72

    3. Thường phục....................................... 75
    III. Trang phục quân đội........................ 82
    IV. Trang phục dân gian......................... 87
    1. Y phục.................................................. 87
    2. Kiểu tóc................................................ 91
    Phụ lục 1. Một số ghi chép liên quan tới
    trang phục Chiêm Thành từ thế kỷ XI đến
    thế kỷ XV.................................................. 96
    Phụ lục 2. Một số ghi chép và hình ảnh
    liên quan tới vũ nhạc Việt Nam thời Lý
    Trần......................................................... 99

    Chương II. TRANG PHỤC THỜI TRẦN.....
    ............................................................... 101
    I. Trang phục hoàng đế........................ 106
    1. Triều phục ........................................ 106
    2. Thường phục .................................... 107
    3. Tiện phục . ........................................ 110
    II. Trang phục bá quan......................... 112
    1. Lễ phục ............................................. 112
    2. Thường phục .................................... 118
    *Đôi nét về bức họa Trúc Lâm đại sĩ xuất
    sơn đồ..................................................... 128
    III. Trang phục quân đội...................... 133
    IV. Trang phục dân gian....................... 135
    1. Y phục ............................................... 135
    2. Kiểu tóc.............................................. 137
    Phụ khảo. Cải cách quan phục năm 1396
    và trang phục thời Hồ.......................... 141
    Phụ lục 1. Trang phục cư tang và quan

    MỤC LỤC

    niệm về hai màu đen trắng ................. 147
    Phụ lục 2. Số lượng thớt lụa và quạt cống
    sang nhà Minh từ năm 1416 đến 1423......
    ............................................................... 149
    Phụ lục 3. Bản hiệu chính phần Chương
    phục trong sách An Nam chí lược.......150

    Chương III. TRANG PHỤC THỜI LÊ...153
    Trang phục thời Lê sơ...........................160
    I. Trang phục hoàng đế........................161
    1. Lễ phục - Triều phục........................161
    2. Thường phục ....................................165
    II. Trang phục bá quan.........................169
    1. Công phục - Triều phục...................171
    2. Thường phục.....................................175
    3. Trang phục quân đội........................181
    Phụ khảo. Trang phục nhà Mạc..........183

    II. Trang phục bá quan.........................200
    1. Triều phục ........................................202
    2. Thường phục - Thị phục .................211
    3. Tiện phục . ........................................224
    III. Trang phục hậu cung.....................228
    1. Lễ phục..............................................229
    2. Tiện phục..........................................232
    IV. Trang phục quân đội .....................234
    V. Trang phục dân gian........................240
    1. Y phục ...............................................240
    2. Kiểu tóc .............................................246
    Phụ khảo 1. Cải cách y phục Đàng Trong
    năm 1744 – Sự ra đời và quá trình phổ
    cập của áo dài năm thân......................258

    Chương IV. TRANG PHỤC THỜI TÂY
    SƠN........................................................267
    I. Trang phục cung đình.......................267
    II. Trang phục dân gian........................272

    MỤC LỤC

    4. Quân phục ........................................295
    II. Trang phục bá quan.........................297
    1. Lễ phục .............................................297
    2. Triều phục ........................................307
    3. Thường phục ....................................322
    III. Trang phục hậu cung.....................335
    1. Triều phục ........................................335
    2. Thường phục ....................................342
    IV. Trang phục quân đội .....................345
    V. Trang phục dân gian........................348
    1. Y phục ...............................................348
    2. Kiểu tóc .............................................351
    LỜI KẾT.................................................355

    Nguyễn năm 1804
    TIỂU TỪ ĐIỂN TRANG PHỤC VIỆT NAM

    PHỤ LỤC............................................ 357
    Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều Lê
    Trung Hưng năm 1661
    Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều Lê
    Trung Hưng năm 1721
    Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều Lê

    Trang phục thời Lê Trung Hưng..........187
    I. Trang phục vua chúa........................188
    1. Triều phục ........................................189
    2. Tế phục .............................................192
    3. Thường phục ....................................195
    4. Tiện phục . ........................................198

    Chương V. TRANG PHỤC THỜI
    NGUYỄN...............................................275
    I. Trang phục hoàng đế........................278
    1. Lễ phục .............................................278
    2. Triều phục ........................................288
    3. Thường phục ....................................293

    Trung Hưng năm 1725
    Bảng quy chế Thị phục chầu chúa của bá
    quan triều Lê Trung Hưng năm 1721
    Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều
    Nguyễn năm 1804
    Bảng quy chế Triều phục của bá quan triều
    Nguyễn năm 1845
    Bảng quy chế Triều phục của một số vị hoàng
    tử, hoàng thân, tôn thất triều Nguyễn năm
    1845
    Bảng quy chế Thường phục của bá quan triều

    THƯ MỤC SÁCH TRÍCH DẪN

    PHÀM LỆ

    Trong cuốn sách này, tên các sách trích dẫn
    được in nghiêng, không viết tắt, ngoại trừ Đại Việt
    sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương
    mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Đại
    Nam hội điển sự lệ lần lượt được gọi tắt là Toàn thư,
    Cương mục, Loại chí và Hội điển. Bulletin des Amis
    du Vieux Huế (Những người bạn cố đô Huế) chúng
    tôi vẫn sử dụng tên viết tắt thông dụng là BAVH. Các
    thông tin trong Toàn thư, Cương mục, chúng tôi chỉ dẫn năm.
    Tại phần cước chú chúng tôi nhất loạt chỉ đề tên sách và vị trí
    thông tin trích dẫn. Bạn đọc có thể tra các thông tin đầy đủ liên
    quan đến tên tác giả, nhà xuất bản và năm xuất bản tại phần
    thư mục trích dẫn ở cuối sách.
    Với các tư liệu Hán văn cổ, chúng tôi trực tiếp dịch ra
    quốc văn, không chú kèm âm Hán Việt trong nội dung chính,
    nguyên văn sẽ được chú dẫn đầy đủ tại phần cước chú để bạn
    đọc quan tâm tiện tham khảo. Quy cách chú dẫn như sau: (Tên
    nước) Tên sách - Phân mục. Ví dụ: (Triều) Chi Phong tiên sinh
    tập - Q.8 - An Nam quốc sứ thần xướng họa vấn đáp lục - Hậu,
    tức là phần Hậu trong mục An Nam quốc sứ thần xướng họa
    vấn đáp lục nằm trong Quyển 8 sách Chi Phong tiên sinh tập
    của Triều Tiên - Hàn Quốc.
    Một số bản tư liệu cổ sao chụp được chúng tôi khai
    thác tại các trang web như cadal.zju.edu.cn (Trung Mỹ
    bách vạn đồ thư), archive.org, record.museum.
    kyushu-u.ac.jp (Bảo tàng Đại học Kyushu, Nhật
    Bản), yoksa.aks.ac.kr/main.jsp (Trung tâm Thông
    tin Nghiên cứu Hàn Quốc, Học viện Nghiên cứu
    Hàn Quốc) v.v. Bạn đọc quan tâm có thể tham
    khảo trực tiếp trên các trang web này.

    TỰ LUẬN

    Sự thiếu khuyết sử liệu - hiện vật là một trong những trở ngại lớn,
    gây nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu khi lần tìm diện mạo trang
    phục cổ của người Việt Nam. Ngay Phan Huy Chú (1782-1840) trong
    Loại chí cũng phải thừa nhận có nhiều kiểu mũ ông không thể khảo
    được. Tuy thiên về khảo quy chế trang phục vua quan triều Hậu Lê, Loại
    chí vẫn được coi là tập chuyên khảo trang phục các triều đại đầu tiên tại
    Việt Nam.
    Tham khảo Lịch triều hiến chương loại chí và Khâm định Đại Nam
    Hội điển sự lệ, Trương Quốc Dụng (1797 - 1864) hoàn thành phần khảo
    quy chế áo mão cung đình từ triều Tiền Lê cho tới triều Nguyễn, ghi lại
    trong Công hạ ký văn. Năm 1915, Phan Kế Bính với Việt Nam phong tục,
    năm 1938, Đào Duy Anh với Việt Nam văn hóa sử cương, bước đầu vạch
    ra những nét phác họa chung cho trang phục dân gian Việt Nam. Năm
    1970, Nhất Thanh với Đất lề quê thói, Toan Ánh với Nếp cũ con người
    Việt Nam tiếp tục đặt bút khắc tả lối ăn vận dân gian theo tập quán thời
    Nguyễn v.v. Hơn hai chục năm trở lại đây xuất hiện thêm một số nhà
    nghiên cứu trang phục như Đoàn Thị Tình (Tìm hiểu trang phục Việt
    Nam - 1988, Trang phục Việt Nam - 2006, Trang phục Thăng Long Hà
    Nội - 2010), Ngô Đức Thịnh (Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam
    - 1994), Trịnh Quang Vũ (Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt
    Nam - 2005, Trang phục triều Lê Trịnh - 2008) v.v. với sự tiếp cận rộng
    hơn tới lịch sử trang phục Việt.
    Thiết nghĩ, để hiểu được lịch sử tư tưởng, văn hóa và mỹ thuật Việt
    Nam, nghiên cứu trang phục cổ chính là một ngành vô cùng quan trọng,
    cần tới sự tiếp cận mang tính khoa học, liên ngành, gắn với những chứng
    lý đầy đủ, xác thực. Những cuốn sách khảo cứu gần đây tuy có những
    đóng góp nhất định, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế, như thường
    xuyên sử dụng cách dẫn chứng hàm hồ kiểu “sử cũ ghi”, “sử xưa chép
    lại rằng”, “tương truyền rằng” mà không chú rõ nguồn dẫn, xuất xứ; việc
    nghiên cứu nhiều khi chỉ dừng lại ở việc công bố một số tư liệu liên quan,
    thiếu thao tác khảo cứu, phân tích cụ thể; việc xác định, định danh các

    16

    dạng áo mũ hầu hết mang nặng tính tư biện, ức đoán. Mặt khác, tư liệu

    thượng đẳng thần dùng hình long mã.” (Kiến văn tiểu lục). Đại Nam thực

    Hán Nôm được trích dẫn phần lớn là từ các bản dịch tiếng Việt sẵn có,

    lục còn cho biết vào thời Minh Mạng, Văn miếu tỉnh Ninh Bình có tượng

    trong khi chính những bản dịch này rất hạn chế về mặt số lượng, đồng

    Khổng Tử và bốn vị thánh của đạo Nho đều đội mũ Miện, mặc áo Cổn;

    thời tồn tại nhiều chỗ dịch không chuẩn xác, nhất là trong các phần đề

    vua Minh Mạng và các quan đều cho rằng Cổn Miện là trang phục của

    cập tới trang phục.

    bậc vương giả, cách ăn mặc thể hiện trên tượng như vậy là thất lễ, nên hạ

    Trong cuốn sách này, chúng tôi không đi sâu khảo cứu phương

    lệnh đem chôn. Những dẫn chứng này khiến chúng tôi muốn lưu ý rằng,

    thức chế tác vải vóc, thêu thùa mà chủ yếu làm rõ kiểu dáng, quy chế

    không thể khinh suất dựa vào các pho tượng được tạc dựng vào triều đại

    của các loại áo mũ từng được sử dụng phổ biến trong cung đình và dân

    sau này để ức đoán trang phục của triều đại trước đây, như trường hợp

    gian Việt Nam từ thời Lý đến thời Nguyễn. Đối với văn hóa cung đình,

    một số người nghiên cứu khi khảo trang phục của vua Lý Thái Tổ (974-

    sự phân chia giai tầng xã hội được quy định nghiêm ngặt, chế độ áo mũ

    1028) đã dựa vào pho tượng chùa Kiến Sơ mang đậm thủ pháp dân gian

    do đó cũng có luật lệ riêng, như Phan Huy Chú khẳng định: “Đạo trị

    cuối thời Hậu Lê thế kỷ XVIII.

    nước không gì lớn bằng Lễ, Lễ là để làm rõ tôn ti […] Quy chế áo mũ, nghi

    Các dữ liệu mô tả trang phục của vua quan Việt Nam thời phong

    vệ là để phân biệt trên dưới.” (Loại chí – Lễ nghi chí) Lâu nay, trong đại

    kiến hầu hết là tư liệu Hán văn, nếu không có kiến thức nhất định trong

    chúng và trong một bộ phận giới nghiên cứu tồn tại một cảm quan rằng

    lĩnh vực cổ trang, khi phiên dịch người dịch dễ để lại nhiều sai lạc. Không

    triều đình Việt Nam đậm chất dân gian, tôn ti lỏng lẻo, khác với triều

    thể phủ nhận, bản dịch của tiền nhân cũng có những sai sót khiến nhiều

    đình Trung Quốc. Dĩ nhiên, văn hóa cung đình Việt Nam không quá

    người nghiên cứu về sau bị sai theo. Như bản dịch Toàn thư lưu hành

    mức phức tạp, nhiêu khê, và ở từng triều đại khác nhau, tính tôn ti, bảo

    hiện nay dịch áo Xưởng Hạc là áo lông hạc, mũ Thất Lương Quan là mũ

    thủ cũng được thể hiện không đồng đều, song rõ ràng cung đình luôn là

    bảy cầu, mũ trụ đính cánh phượng bằng vàng (kim phượng xí) là cánh

    nơi duy trì một lề lối văn hóa nghiêm cẩn, không đại khái, linh hoạt như

    mũ thêu phượng vàng v.v. Bản dịch An Nam chí lược dịch phương tâm

    văn hóa dân gian. Nhìn nhận rõ sự khu biệt giai cấp này, những quy chế

    khúc lĩnh là tim vuông tràng áo cong, mũ Đường Cân là khăn tàu v.v.

    phân biệt cao thấp, sang hèn trong trang phục thời phong kiến - quân

    Trên thực tế, Xưởng Hạc, Lương Quan, phương tâm khúc lĩnh, phượng

    chủ cũng sẽ được soi tỏ.

    xí, Đường Cân đều là tên riêng của các loại áo, mũ, phục sức. Vậy nên

    Cũng ở đây, đối với tư liệu tranh tượng, chúng tôi tiến hành khảo

    khi khảo cứu, chúng tôi cố gắng truy nguyên về nguồn, tìm ra tư liệu gốc

    sát thận trọng dựa trên tính đồng đại của hiện vật, kết hợp hiện vật với

    làm cơ sở, diễn dịch những tư liệu đó một cách chuẩn xác, nhằm đưa ra

    những mô tả trong thư tịch tương quan. Lấy ví dụ, sau những biến động

    những kết quả nghiên cứu đáng tin cậy.

    to lớn diễn ra vào cuối thời Trần - Hồ, đặc biệt là sau 20 năm thuộc Minh,

    Do tư liệu khan hiếm, trong cuốn sách này, chúng tôi chỉ có thể

    tuyệt đại đa số tượng thờ vua quan thời Lý - Trần đều đã bị phá hủy.

    bước đầu khảo cứu trang phục cung đình Việt Nam từ triều Lý tới triều

    Các pho tượng có thể thấy hiện nay phần lớn được tạo dựng vào thế kỷ

    Nguyễn (1009 - 1945), những thông tin liên quan đến trang phục cung

    XVIII, XIX, với mô típ đội mũ Phốc Đầu hoặc mũ Xung Thiên, mặc áo

    đình trước thời Lý sẽ được trình bày tại phần Tổng quan. Chúng tôi biết

    cổ tròn đính Bổ Tử. Trong khi quy chế Bổ Tử lần đầu tiên được áp dụng

    việc nghiên cứu chưa thể dừng lại ở đây, những hạn chế về mặt chuyên

    vào triều đình Đại Việt vào năm 1471, thời vua Lê Thánh Tông; hơn nữa

    môn, về tư liệu luôn cần được bổ khuyết. Trong tương lai có thể có những

    một trong những quy định tạc tượng thời Cảnh Hưng (1767) cũng được

    ý kiến mới, những phát hiện mới giúp củng cố hoặc bác bỏ kết luận nào

    Lê Quý Đôn ghi rõ: “Vị thần nào dự vào hạng tối linh thì vẫn để như cũ,

    đó của chúng tôi, dù theo hướng nào chúng tôi vẫn trân trọng coi đó là

    còn bầy tôi các triều đại trước được dự phong phúc thần, đều theo lệ mới

    sự đóng góp tích cực cho nghiên cứu này.

    […] Mũ các vị thần đội, đều dùng mũ Phốc Đầu […] cấm dùng hình dạng
    mũ Xung Thiên chập cánh […] Bổ tử, trung đẳng thần dùng hình kỳ lân,

    17

    TỔNG QUAN
    Để tiện khảo cứu và trình bày, chúng tôi
    phân trang phục thời phong kiến - quân chủ
    thành hai loại hình: cung đình và dân gian.
    Trong đó, trang phục cung đình, ở giai đoạn
    phong kiến - quân chủ, với tư cách là văn hiến
    áo mũ của một quốc gia độc lập, đã trải qua
    những vận động đặc thù, để mang một diện
    mạo vừa có nét tương đồng, vừa có điểm dị
    biệt so với trang phục của triều đình các nước
    Trung Quốc, Triều Tiên(1), Nhật Bản.
    I. TỔNG QUAN TRANG PHỤC
    CUNG ĐÌNH VIỆT NAM

    Nghiên cứu văn hóa cung đình Việt Nam,
    không thể không xét đến hai luồng tư tưởng
    gây ảnh hưởng sâu đậm và mang tính quyết
    định, đó là tư tưởng Đế vương và quan niệm
    Hoa di. Diện mạo văn hóa trang phục của
    cung đình Việt Nam cũng không nằm ngoài
    Đầu hồ: 1. Đầu hồ trong cung
    đình triều Nguyễn Việt Nam; 2.
    Minh Tuyên Tông hành lạc đồ
    - Trung Quốc; 3. Lâm hạ Đầu
    hồ - Triều Tiên. 4. Ngày xuân
    chơi Đầu hồ tại chùa Sensoji
    Nhật Bản.

    những ảnh hưởng này.
    1. Những tư tưởng ảnh hưởng đến văn

    hóa trang phục cung đình Việt Nam
    1.1. Tư tưởng Đế vương

    Bắt nguồn từ ý thức độc lập, tự chủ,
    chống chọi đến cùng trước những chính sách

    cai trị bạo tàn, người Việt vùng đồng bằng sông Hồng có thể coi là một
    trong những cộng đồng “làm loạn” nhiều nhất trong thời còn nội thuộc

    1. Chúng tôi dùng tên này để chỉ nước Triều Tiên thời kỳ phong kiến thống nhất từ năm 1910 trở về trước, khi
    chưa bị Nhật Bản chiếm đóng và chưa bị chia tách thành CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc như hiện nay.

    20

    ách thống trị của Trung Quốc(1). Bất kể quan niệm của người phương Bắc

    của quan nhà Tống, Trịnh Tủng: “Họ Lý từ sau Công

    cho rằng, trời chỉ có một thiên tử, thiên hạ chỉ có một hoàng đế, song

    Uẩn truyền đến thời Hạo Sảm ngày nay, thảy tám đời.

    không ít thủ lĩnh nước Việt mỗi khi giành được độc lập, giành quyền

    Tên các đời là Nhật, là Càn, là Dương, là Thiên, là Long

    làm chủ cõi đất phương Nam đều xưng đế, dù khi chạm trán thiên triều

    đều có ý lấn vượt bề trên. Triều đình coi nước ấy xa nơi

    vẫn nhún mình xưng là bề tôi: Lý Bí xưng đế năm 544, Mai Thúc Loan

    góc bể, không thèm lần lữa so đo”(1); cũng có khi lại trở

    xưng đế năm 713, và năm 968, Đinh Bộ Lĩnh tự xưng Đại Thắng Minh

    thành một trong những cái cớ để san bằng nước Việt,

    hoàng đế… Phan Huy Chú sở dĩ coi nước Việt từ thời Đinh Lê mở nước
    đối chọi với Trung Hoa , bởi tính từ thời điểm này trở đi, vị thế của một
    (2)

    mà đỉnh điểm là cuộc xâm lược của nhà Minh trong
    những năm đầu thế kỷ XV. Việc “không tuân theo

    đất nước độc lập đã được khẳng định, tư tưởng bá chủ trời Nam đã hết

    chính sóc của triều đình (lịch nhà Minh), tiếm vượt đổi

    sức sáng rõ như chính lời chúc của Nam Việt Vương Đinh Liễn nhắn gửi

    quốc hiệu thành Đại Ngu, xưng láo tôn hiệu, đổi niên

    trên cột kinh tràng: “Chúc Đại Thắng Minh hoàng đế mãi làm bá chủ trời
    Nam, giữ yên ngôi báu”, “mãi trấn vững trời Nam, thứ là khuông phù đế
    nghiệp.” Việc ấy cũng như lời nhận xét của quan Trung Quốc thời Minh
    (3)

    là Lý Văn Phượng: “Nhật Tôn tự làm đế nước ấy […] lấy quốc hiệu Đại
    Việt. Từ ấy về sau, con cháu họ Lý cho tới họ Trần, Lê, Mạc đều giẫm theo
    vết cũ, tiếm xưng đế hiệu.”

    21

    hiệu Nguyên Thánh”(2), một trong hai mươi tội ác nhà
    Minh gán cho cha con họ Hồ, trên thực tế cũng chính
    là quán lệ của triều đình Đại Việt. Nhưng sau bao công
    sức đổ vào công cuộc giáo hóa hòng răn dạy An Nam
    phải ngoan ngoãn nghe lời, ý đồ của nhà Minh vẫn

    Giá đỡ chậu rửa thời

    hoàn toàn sụp đổ, bởi với chiến thắng của Lê Lợi hai Nguyễn (BAVH).

    (4)

    mươi năm sau, “đất cát lại là đất cát An Nam, nhân

    Việc vua nước Việt xưng đế,
    đồng nghĩa với việc ông vua Việt

    dân lại là nhân dân An Nam, phong tục áo mũ lại được đúng như xưa,

    được hưởng mọi đặc quyền, nghi lễ

    nền nếp mối giềng lại được sáng như cũ”(3), đặc biệt, theo Lý Văn Phượng,

    dành cho thiên tử, không kém vua

    Lê Lợi đã “không nghĩ đến việc thành thật hối lỗi, bề ngoài thần phục,

    Trung Hoa. Thái độ của triều đình

    nhưng bên trong lại rắp tâm lấn vượt, tiếm hiệu, cải nguyên để đối chọi

    phương Bắc đối với việc lấn vượt,

    ngang hàng với Trung Quốc.”(4)

    “không kiêng dè”(5) của triều đình
    Đại Việt là nhiều khi đành phải
    khuất mắt trông coi như ghi nhận

    Chính vì vậy, cũng dễ hiểu khi vua chúa Việt Nam luôn muốn mình
    Rồng thời Lý khai quật tại
    hoàng thành Thăng Long.

    ngang hàng, thậm chí vượt trội so với các vị vua tài đức của Trung Hoa,
    mà không phải vua chúa của một quốc gia nào khác. Sự so sánh này
    khi là sự so bì về tài năng như Lý Chiêu Hoàng khen chồng, Trần Cảnh:

    1. Sự “làm loạn” này được không ít quan lại phương Bắc “đưa tin” về thiên triều như Thái thú Giao Chỉ, Hợp
    Phố thời Ngô là Tiết Tông (?-243) dâng sớ viết: “(Giao Chỉ) núi rừng hiểm trở, dễ làm loạn, khó trị” (An
    Nam chí lược. Tr.118. Nguyên văn: 險阻山林,易以爲亂,難使從); Thứ sử Giao Châu thời Tây Tấn là Đào
    Hoàng cũng viết: “Dân ở châu này thích gây họa loạn. (An Nam chí lược. Tr.121. Nguyên văn: 此州之民好
    為禍亂); đến tận thời Ngũ Đại, vua Nam Hán là Lưu Nghiễm vẫn phàn nàn: “Dân Giao Chỉ ưa làm loạn”.
    (An Nam chí lược. Tr.279. Nguyên văn: 交趾民好乱)
    2. (Việt) Loại chí - Văn tịch chí - Tự. Nguyên văn: 自丁黎肇國,抗衡中華
    3. Văn khắc Hán Nôm. Tập 1. Tr.64, 66. Nguyên văn: 祝大勝明王皇帝永霸天南,恆安寳位[…]先祝大勝
    明王皇帝永鎮天南,次為匡佐帝圖
    4. (Trung) Việt kiệu thư - Tổng tự - Sử 162. Tr.666. Nguyên văn: 日尊自帝其國…自是以後,其子孫及
    陳、黎、莫氏皆踵其故事,僭帝號焉
    5. Từ dùng của Chử Nhân Hoạch, người thời Thanh. (Trung) Kiên hồ dư tập - Q.1 - An Nam thí lục. Nguyên
    văn: 安南國去中國數千里,雖名秉聲教,實自帝其國,建元剏制無忌也 (Nước An Nam cách Trung
    Quốc mấy ngàn dặm, mang tiếng giữ gìn thanh giáo, nhưng kỳ thực tự làm hoàng đế một nước. Đặt niên
    hiệu, định quy chế đều không kiêng dè)

    “Văn chất đủ vẻ, thực thể cách quân tử hiền nhân, uy nghi đường hoàng,
    có tư chất thánh thần văn võ, dù Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng

    1. (Trung) Trịnh Khai Dương tạp trứ - Q.6 - An Nam kỷ lược. Tr.45. Nguyên văn: 李氏自公蘊而後歷傳至今
    昊旵凡八世,名字曰日曰乾曰陽曰天曰龍皆有僭上之意。朝廷以其僻在海隅,不復與較也
    2. (Trung) Minh thực lục - Thái Tông thực lục - Q.60 - Mục ngày Ất Mùi tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ tư.
    Nguyên văn: 不奉朝廷正朔,僭改國名大虞,妄稱尊號,紀元元聖,罪三也 Toàn thư chép niên
    hiệu thời Hồ Quý Ly là Thánh Nguyên
    3. (Việt) Lam Sơn thực lục - Phụ lục lời bình. Nguyên văn: 土地復安南土地,人民復安南人民。凡俗衣
    冠得以復正,綱疇統紀得以復明矣
    4. (Trung) Việt kiệu thư - Tự. Tr.664. Nguyên văn: 為利者不思輸誠悔罪,乃外臣服衷懷不軌, 僭號改元
    以與中國抗衡

    22

    không hơn được”(1), hay sử thần Vũ Quỳnh khen vua Lê Thánh Tông:

    dùng tiếng Hán đọc chiếu. Tờ chiếu có đoạn kể tội “Tự cho thánh triết

    “Quy mô xếp đặt, công nghiệp trung hưng, có thể sánh vai với Hạ Thiếu

    hơn Tam hoàng, đức cao hơn Ngũ đế; coi Văn vương, Võ vương không

    Khang, nối gót được Chu Tuyên Vương, mà khinh hẳn Hán Quang Vũ,
    Đường Hiến Tông là hạng dưới vậy”(2); khi là sự so sánh về đức độ như
    vua Trần Dụ Tông khen vua Trần Thái Tông: “Sáng nghiệp Việt - Đường,
    hai Thái Tông/ Kia xưng Trinh Quán, ta Nguyên Phong/ Kiến Thành bị
    giết An Sinh sống/ Miếu hiệu như nhau, đức chẳng đồng” ; cũng có khi
    (3)

    chỉ đơn giản là sự so sánh về dáng vẻ của đôi tai, con mắt như trường

    đủ làm phép tắc, khinh Chu công, Khổng tử không đủ làm bậc thầy; hủy
    báng Mạnh Tử là đạo nho (tay nhà nho ăn trộm - TQĐ chú), Trình – Chu thạo
    cóp nhặt. Dối thánh dối trời, không ngôi không thứ. Tiếm quốc hiệu gọi là
    Đại Ngu, trộm kỷ nguyên gọi là Thiệu Thánh. Xư...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS PHONG XUÂN - PHONG ĐIỀN - TT HUẾ!