Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
nhasachmienphi-di-tim-le-song

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Lan (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:37' 30-04-2024
Dung lượng: 866.4 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Lan (trang riêng)
Ngày gửi: 13h:37' 30-04-2024
Dung lượng: 866.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Đi Tìm Lẽ Sống
Viktor E. Frankl
Nguyên tác: Trotzdem Ja zum Leben sagen: Ein Psychologe erlebt das
Konzentrationslager
Biên dịch: Đặng Ngọc Thảo - Giang Thủy - Ngọc Hân
Công ty phát hành: First News - Trí Việt
Nhà xuất bản: NXB Trẻ
Số trang: 224 trang
Ngày xuất bản: 08-2011
∞ ∞ ∞ ∞ ∞
Đánh máy: notrinos
Soát lỗi & đóng gói: Bố Bủm Xì
Ngày hoàn thành: 29-05-2016
Nguồn: Tve-4u
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI GIỚI THIỆU CHO LẦN ẤN BẢN NĂM 1992
PHẦN 1: NHỮNG TRẢI NGHIỆM TRONG TRẠI TẬP TRUNG
PHẦN 2: SƠ LƯỢC VỀ LIỆU PHÁP Ý NGHĨA
TÁI BÚT 1984
LỜI CUỐI
Viktor Emil Frankl (1905 - 1977)
Một lần, mọi người yêu cầu Viktor Frankl tóm gọn ý nghĩa cuộc sống của
ông trong chỉ một câu. Ông đã viết câu trả lời trên giấy và hỏi lại các sinh
viên xem họ đoán ông đã viết gì.
Sau một hồi im lặng, một sinh viên phát biểu: “Ý nghĩa cuộc sống của
thầy là giúp người khác tìm ra ý nghĩa cuộc sống của họ”.
“Chính xác” - Frankl nói. - “Đó chính là những lời mà tôi đã viết”.
LỜI NÓI ĐẦU
Đi tìm lẽ sống của Viktor Frankl là một trong những quyển sách kinh điển
của thời đại. Thông thường, nếu một quyển sách chỉ có một đoạn văn, một ý
tưởng có sức mạnh thay đổi cuộc sống của một người, thì chỉ riêng điều đó
cũng đã đủ để chúng ta đọc đi đọc lại và dành cho nó một chỗ trên kệ sách
của mình. Quyển sách này có nhiều đoạn văn như thế.
Trước hết, đây là quyển sách viết về sự sinh tồn. Giống như nhiều người
Do Thái sinh sống tại Đức và Đông Âu khi ấy, vốn nghĩ rằng mình sẽ được
an toàn trong những năm 1930, Frankl đã trải qua khoảng thời gian chịu
nhiều nghiệt ngã trong trại tập trung và trại hủy diệt của Đức quốc xã. Điều
kì diệu là ông đã sống sót, cụm từ “thép đã tôi thế đấy” có thể lột tả chính
xác trường hợp này. Nhưng trong quyển sách này, tác giả ít đề cập đến
những khó nhọc, đau thương, mất mát mà ông đã trải qua, thay vào đó ông
viết về những nguồn sức mạnh đã giúp ông tồn tại. Nhiều lần trong quyển
sách này, Frankl hay trích dẫn lời của Nietzche[1]: “Người nào có lý do để
sống thì có thể tồn tại trong mọi nghịch cảnh”. Ông chua xót kể về những tù
nhân đã đầu hàng cuộc sống, mất hết hy vọng ở tương lai và chắc hẳn là
những người đầu tiên sẽ chết. Ít người chết vì thiếu thức ăn và thuốc men,
mà phần lớn họ chết vì thiếu hy vọng, thiếu một lẽ sống. Ngược lại, Frankl
đã nuôi giữ hy vọng để giữ cho mình sống sót bằng cách nghĩ về người vợ
của mình và trông chờ ngày gặp lại nàng. Ông còn mơ ước sau chiến tranh sẽ
được thuyết giảng về các bài học tâm lý ông đã học được từ trại tập trung
Auschwitz. Rõ ràng có nhiều tù nhân khao khát được sống đã chết, một số
chết vì bệnh, một số chết vì bị hỏa thiêu. Trong tập sách này, Frankl tập
trung lí giải nguyên nhân vì sao có những người đã sống sót trong trại tập
trung của phát xít Đức hơn là đưa ra lời giải thích cho câu hỏi vì sao phần
lớn trong số họ đã không bao giờ trở về nữa.
Những trải nghiệm kinh hoàng của tác giả trong trại tập trung Auschwitz
đã củng cố một trong những quan điểm chính của ông: Cuộc sống không
phải chỉ là tìm kiếm khoái lạc, như Freud[2] tin tưởng, hoặc tìm kiếm quyền
lực, như Alfred Adler[3] giảng dạy, mà là đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Nhiệm
vụ lớn lao nhất của mỗi người là tìm ra ý nghĩa trong cuộc sống của mình.
Frankl đã nhìn thấy ba nguồn ý nghĩa cơ bản của đời người: thành tựu trong
công việc, sự quan tâm chăm sóc đối với những người thân yêu và lòng can
đảm khi đối mặt với những thời khắc gay go của cuộc sống. Đau khổ tự bản
thân nó không có ý nghĩa gì cả, chính cách phản ứng của chúng ta mới khoác
lên cho chúng ý nghĩa. Frankl đã viết rằng một người “có thể giữ vững lòng
quả cảm, phẩm giá và sự bao dung, hoặc người ấy có thể quên mất phẩm giá
của con người và tự đặt mình ngang hàng loài cầm thú trong cuộc đấu tranh
khắc nghiệt để sinh tồn”. Ông thừa nhận rằng chỉ có một số ít tù nhân của
Đức quốc xã là có thể giữ được những phẩm chất ấy, nhưng “chỉ cần một ví
dụ như thế cũng đủ chứng minh rằng sức mạnh bên trong của con người có
thể đưa người ấy vượt lên số phận nghiệt ngã của mình”.
Frankl luôn trung thành với quan điểm: Những thế lực vượt quá khả năng
kiểm soát của bạn có thể lấy đi mọi thứ mà bạn có, chỉ trừ một thứ, đó là sự
tự do chọn lựa cách bạn phản ứng trước hoàn cảnh. Tôi luôn áp dụng quan
điểm này của Frankl trong suốt cuộc đời mình cũng như trong vô số tình
huống tư vấn. Bạn không thể kiểm soát điều gì sẽ xảy ra trong đời mình,
nhưng bạn luôn có thể kiểm soát cách đón nhận cũng như cách phản ứng
trước mọi tình huống của cuộc sống.
Có một cảnh trong vở kịch Incident at Vichy (Sự cố tại Vichy) của Arthur
Miller, trong đó, một người đàn ông trung lưu xuất hiện trước chính quyền
Đức quốc xã, vốn đang chiếm đóng thị trấn của ông và trưng ra bằng cấp của
mình: tấm bằng đại học, các lá thư tham khảo do những người có tiếng tăm
viết, v.v. Tên lính Đức quốc xã hỏi ông: “Mày chỉ có thế thôi sao?”. Người
đàn ông gật đầu. Tên lính quăng tất cả vào sọt rác và nói: “Tốt, giờ mày
chẳng còn gì nữa”. Người đàn ông cảm thấy bị tổn thương nặng nề. Frankl
đã nói rằng chúng ta sẽ không bao giờ mất đi tất cả nếu chúng ta vẫn còn
được tự do lựa chọn cách phản ứng với sự việc.
Trải nghiệm tôn giáo của tôi đã cho tôi thấy chân lý trong quan điểm của
Frankl. Tôi biết có nhiều doanh nhân thành công sau khi nghỉ hưu, đã mất
hết mọi nhiệt huyết với cuộc sống. Với họ, dường như ý nghĩa cuộc sống chỉ
xoay quanh hai chữ “công việc”. Vì vậy, khi không có việc làm nữa, họ cảm
thấy cuộc sống trở nên vô vị. Mỗi ngày qua đi, họ lặng lẽ ngồi trong nhà băn
khoăn thấy mình “không biết làm gì”. Tôi biết nhiều người đã trưởng thành
từ khả năng chịu đựng phi thường của họ một khi họ có lòng tin rằng những
tai họa, nghịch cảnh của họ đang chịu đựng không vô ích. Đa phần đối với
mọi người, việc có một lý do để sống khiến cho họ có thể chịu được Mọi
hoàn cảnh, có thể đó là mong muốn được cùng mọi người trong gia đình
gánh vác một trọng trách nào đó hoặc hy vọng các bác sĩ sẽ tìm ra phương
thuốc điều trị căn bệnh của họ.
Tuy Frankl và tôi có những trải nghiệm không giống nhau song những gì
chúng tôi rút ra được từ những bài học cuộc sống có nhiều điểm tương đồng.
Những quan điểm trong tập sách When bad Things Happen to Good People
(Khi điều tồi tệ xảy ra với người tốt) có được sự tín nhiệm của độc giả bởi vì
chúng được rút ra từ chính những trải nghiệm của tôi trong quá trình tìm
hiểu căn bệnh dẫn đến cái chết của con trai mình. Trong khi đó, học thuyết
về liệu pháp ý nghĩa của Frankl trình bày phương thức chữa trị vết thương
cho tâm hồn bằng cách dẫn dắt nó đi tìm ý nghĩa cuộc sống, những trang viết
được đúc kết từ trải nghiệm mà tác giả phải chịu ở Auschwitz đã lập tức
nhận được sự đồng cảm và ủng hộ của độc giả. Bạn không thể tiếp nhận toàn
bộ giá trị sâu sắc của tập sách này nếu chỉ đọc phần sau mà bỏ qua nửa đầu
của cuốn sách.
Một điểm rất có ý nghĩa nữa, là lời đề tựa cho ấn bản năm 1962, được viết
bởi Gordon Allport - một nhà tâm lý học nổi tiếng, còn trong lần này, lời đề
tựa được viết bởi một giáo sĩ. Đây là một quyển sách có bàn về những nội
dung rất sâu sắc liên quan đến lĩnh vực tôn giáo. Nó thể hiện tư tưởng chủ
đạo của tác giả là cuộc sống co ý nghĩa và chúng ta phải học cách nhìn cuộc
sống theo hướng có ý nghĩa bất kể hoàn cảnh nào đi nữa. Tác phẩm cũng
nhấn mạnh một điều: cuộc sống này có một ý nghĩa tối hậu. Và trong bản
gốc, trước khi bổ sung phần tái bút, Frankl đã kết thúc quyển sách bằng
những lời đậm chất tôn giáo nhất của thế kỉ hai mươi:
Chúng ta đã đến chỗ biết được Con người thực sự là gì. Rốt cuộc, con
người là hữu thể đã tạo ra phòng hơi ngạt ở Auschwitz, nhưng cũng là hữu
thể hiên ngang bước vào phòng hơi ngạt với kinh Lạy Cha hoặc câu kinh
Shema Yisrael[4] trên môi.
HAROLD S. KUSHNER[5]
LỜI GIỚI THIỆU CHO LẦN ẤN BẢN
NĂM 1992
Cho đến nay, quyển sách này được phát hành gần 100 lần bằng tiếng Anh
và đã được xuất bản dưới 21 ngôn ngữ. Chỉ riêng các bản tiếng Anh đã được
bán hơn 3 triệu bản.
Những thông số trên hoàn toàn là sự thật, và có lẽ chúng là lí do tại sao
các phóng viên của nhiều tờ báo ở Mỹ, nhất là các đài truyền hình Mỹ
thường bắt đầu buổi phỏng vấn, sau khi đã liệt kê các con số thực tế, bằng lời
ca tụng: “Thưa tiến sĩ Frankl, cuốn sách của ông luôn nằm trong danh sách
những ấn phẩm được đông đảo độc giả đánh giá cao. Ông cảm thấy thế nào
về thành công này?”. Lúc ấy tôi luôn trả lời rằng trước hết, tôi không hề xem
tình trạng ăn khách của cuốn sách là một thành tựu hay thành công gì về phía
bản thân tôi cho bằng đó là biểu hiện cho nỗi bất hạnh của thời đại: nếu hàng
trăm ngàn người tìm kiếm một cuốn sách mà tiêu đề của nó hứa hẹn sẽ giải
quyết vấn đề về ý nghĩa cuộc sống, thì đây chắc hẳn là một vấn đề gai góc
với họ.
Hiển nhiên, ấn tượng của cuốn sách còn nhờ đến những yếu tố khác nữa.
Phần hai nặng tính lý thuyết hơn, và có thể nói nó đã cô đọng thành bài học
mà người đọc có thể rút ra từ phần đầu cuốn sách, phần tự thuật. Trong khi
đó, phần một có tác dụng như những bằng chứng xác thực, là cơ sở thực tế
cho các lý thuyết của tôi. Như vậy, cả hai phần đều giúp cho nhau có được
tính thuyết phục.
Vào năm 1945, khi thực hiện tập sách này, trong đầu tôi chưa bao giờ có
ý niệm rằng mình viết sách để trở thành người nổi tiếng hay đạt được thành
công gì đó. Trong suốt 9 ngày liên tiếp, tôi đã trăn trở rất nhiều trước khi đi
đến quyết định không tiết lộ tên người viết. Sự thật là, bản in đầu tiên bằng
tiếng Đức đã không có tên tôi trên trang bìa, mặc dù vào phút cuối, trước khi
sách được xuất bản, tôi đồng ý để tên mình trong trang tiêu đề theo lời
khuyên của bạn bè. Trong tôi luôn đinh ninh một điều rằng một tác phẩm
khuyết danh sẽ không thể nào đem lại tên tuổi cho tác giả. Mục đích của tôi
đơn thuần chỉ là muốn chuyển tải đến độc giả một ví dụ cụ thể, cho thấy rằng
trong mọi hoàn cảnh, cuộc sống bao giờ cũng chứa đựng một ý nghĩa nào đó,
cho dù đó là hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Và tôi cho rằng nếu một quan điểm
được minh họa từ những trải nghiệm khắc nghiệt như ở trại tập trung thì
cuốn sách của tôi sẽ thêm tính thuyết phục. Vì vậy, tôi cảm thấy có trách
nhiệm viết ra những gì mình đã trải qua, bởi vì tôi nghĩ rằng nó có thể giúp
được những người đang trên bờ tuyệt vọng.
Và vì thế, điều khiến tôi cảm thấy kì lạ và chú ý là - trong số hàng chục
cuốn sách mà tôi là tác giả thì chính cuốn này, cuốn sách mà tôi có ý định
giữ kín tên tuổi lại đạt được thành công. Vì vậy, rất nhiều lần, tôi đã răn bảo
các học trò của mình ở châu Âu và ở Mỹ rằng: “Đừng nhắm vào thành công
- vì các em càng nhắm vào nó, và muốn đạt tới nó, thì các em càng dễ trượt
qua nó. Vì thành công, cũng giống như hạnh phúc, không thể tìm kiếm mà
có; nó phải tự sản sinh ra, và chỉ có thể xuất hiện khi một người cống hiến
hết mình, hoặc sống vì người khác hơn là vì bản thân mình. Hạnh phúc sẽ
đến, và thành công cũng sẽ xuất hiện: các em phải để nó diễn ra bằng cách
đừng quan tâm đến nó. Tôi muốn các em lắng nghe những gì mà lương tâm
các em ra lệnh phải làm và tiếp tục thực hiện hết mình. Và các em sẽ thấy
rằng về lâu dài - tôi nhấn mạnh là về lâu dài - thành công sẽ đến với các em
bởi vì các em đã quên nghĩ về nó!”.
Các độc giả có thể thắc mắc tại sao tôi không tìm cách thoát ly sau khi
Hitler chiếm Áo. Hãy để tôi trả lời bằng cách kể lại câu chuyện sau. Ngay
trước khi nước Mỹ tham chiến, tôi nhận được thư mời đến Lãnh sự quán Mỹ
đặt tại Vienna để nhận giấy thị thực nhập cảnh đến Mỹ. Cha mẹ tôi rất vui
mừng vì họ muốn tôi nhanh chóng rời khỏi nước Áo. Thế nhưng tôi bỗng
nhiên do dự: Liệu tôi có thể để cha mẹ ở lại một mình đối mặt với số phận,
và chẳng sớm thì muộn, họ cũng sẽ bị đưa đến trại tập trung, hoặc thậm chí
bị đưa đến trại hủy diệt? Lẽ nào tôi là một người vô trách nhiệm? Liệu tôi có
nên đi đến một vùng đất trù phú, có những điều kiện thuận lợi giúp tôi nuôi
dưỡng đứa con tinh thần của mình - Liệu pháp ý nghĩa (logotherapy)? Hay
tôi nên nhận lãnh trách nhiệm của một người con hiếu thuận đối với cha mẹ những người đã không tiếc cả mạng sống của mình để bảo vệ tôi? Tôi đã đắn
đo, trăn trở rất nhiều nhưng vẫn không thể đưa ra quyết định cuối cùng. Đây
đúng là tình huống khó khăn như khi người ta chỉ được ước một lần.
Chính khi đó, tôi trông thấy một mẩu đá hoa nằm trên mặt bàn. Tôi hỏi
cha, và ông giải thích rằng ông đã tìm thấy nó tại nơi mà những người theo
Đảng Xã hội quốc gia đã thiêu cháy thánh đường lớn nhất của người Do
Thái tại Vienna. Mẩu đá cha tôi mang về nhà là một phần của những phiến
đá có khắc Mười điều răn của Chúa, trong đó có một ký tự tiếng Hebrew mạ
vàng được khắc trên phiến đá; cha tôi nói rằng ký tự này đại diện cho một
trong Mười điều răn. Tò mò, tôi hỏi ông: “Thưa cha, điều răn đó nói gì ạ?”.
Ông trả lời: “Hãy tôn kính cha mẹ, để ngươi được sống lâu trên đất”. Vào lúc
đó, tôi đã quyết định ở lại với cha mẹ của mình trên mảnh đất này, và tấm vé
thị thực nhập cảnh sang Hoa Kỳ đã không có cơ hội được dùng đến.
VIKTOR E. FRANKL
Vienna - Áo, 1992
PHẦN 1
NHỮNG TRẢI NGHIỆM TRONG TRẠI
TẬP TRUNG
Quyển sách này không hướng đến việc thuật lại những sự việc, sự kiện
lịch sử mà đây là tập sách viết về những trải nghiệm của cá nhân tôi, cũng là
những trải nghiệm mà hàng triệu tù nhân trong trại tập trung của Phát xít
Đức đã phải chịu đựng trong suốt một khoảng thời gian dài. Đây là câu
chuyện trong một trại tập trung, được một trong số những người sống sót kể
lại. Tập sách này không chú trọng những điều ghê rợn kinh hoàng, vốn được
mô tả khá nhiều (tuy rất ít người tin), mà nó viết về những nỗi dày vò nho
nhỏ. Nói cách khác, cuốn sách sẽ tìm cách trả lời câu hỏi: Các tù nhân nghĩ
về cuộc sống hàng ngày trong trại tập trung như thế nào?
Hầu hết các sự kiện được mô tả ở đây không xảy ra tại các trại tập trung
lớn và nổi tiếng mà ở trong những trại tập trung nhỏ, nơi hầu hết các sự cách
ly thực sự diễn ra. Câu chuyện này không phải nói về nỗi đau và cái chết của
những anh hùng và liệt sĩ, cũng không nói về các Capo nhiều đặc ân - hay về
những tù nhân nổi tiếng. Vì vậy, nó không tập trung nhiều vào nỗi đau của
những con người mạnh mẽ, mà nó tập trung vào những hy sinh, sự giày vò
và cái chết của số đông những nạn nhân vô danh mà không một tài liệu nào
ghi nhận. Họ chính là những người tù thông thường, những người không có
dấu hiệu đặc biệt trên tay áo, và bị các Capo coi thường. Trong khi những tù
nhân bình thường này không đủ ăn hoặc không có gì để ăn thì các Capo
không bao giờ biết đói; thực ra cuộc sống của nhiều Capo trong trại còn tốt
hơn cuộc sống bên ngoài của họ. Chính họ thường gây khó dễ với tù nhân
hơn là các lính canh, và cũng chính họ đánh đập các tù nhân tàn bạo hơn lính
SS (Đội bảo vệ của quan Phát xít). Dĩ nhiên những Capo này chỉ được chọn
từ những người tù có tính cách phù hợp với yêu cầu công việc. Nếu họ
không đáp ứng những gì đội ngũ lãnh đạo trông chờ thì ngay lập tức họ sẽ bị
đào thải. Vì vậy, khi được chọn, họ sẽ nhanh chóng trở nên tàn nhẫn giống
những tên lính SS và các trại trưởng. Càng độc ác và tàn bạo, các Capo càng
được cấp trên đánh giá cao.
Những người bên ngoài thường có cái nhìn chưa đúng về cuộc sống trong
trại - họ thường nhìn nhận về cuộc sống của các tù nhân bằng con mắt xót
xa, thương cảm. Họ hoàn toàn không biết rõ về cuộc đấu tranh sinh tồn vô
cùng khắc nghiệt giữa các tù nhân. Đây là một cuộc đấu tranh không ngơi
nghỉ vì miếng ăn hàng ngày, vì sự sống còn, vì lợi ích của bản thân hay vì
một người bạn tù.
Hãy lấy trường hợp vận chuyển tù nhân làm một ví dụ. Việc vận chuyển
thường được thông báo chính thức để đưa một số tù nhân đến một trại khác;
nhưng không khó để dự đoán rằng đích đến của những chuyến đi này có thể
là phòng hơi ngạt. Một nhóm những tù nhân bị bệnh hoặc không còn khả
nằng làm việc sẽ được chọn ra để đưa đến một trại tập trung lớn hơn, nơi có
trang bị phòng hơi ngạt và lò thiêu. Thông cáo tuyển chọn là dấu hiệu báo
trước sẽ có một cuộc ẩu đả hỗn loạn giữa các tù nhân hoặc giữa các nhóm
với nhau. Điều quan trọng là sau những trận quyết chiến sống còn này, tên
của một vài tù nhân sẽ được loại ra khỏi danh sách các nạn nhân, mặc dù mọi
người đều biết rõ rằng với mỗi một người được cứu thoát thì sẽ có một nạn
nhân khác bị thế vào.
Có một lượng tù nhân nhất định trên mỗi lượt vận chuyển, nhưng ở đây
số lượng không phải là vấn đề bởi vì mỗi tù nhân chẳng còn lại gì ngoài một
con số. Lúc nhập trại, tất cả giấy giấy tờ cũng như những vật sở hữu của họ
đều đã bị tịch thu (ít ra đây là cách thức ở Auschwitz). Vì vậy, mỗi tù nhân
có cơ hội để nói đại một cái tên hoặc một nghề nghiệp nào đó; và vì nhiều lý
do nhiều người đã làm thế. Những người phụ trách trại chỉ quan tâm đến các
số tù. Những con số này thường được xăm lên da của tù nhân, khâu lên một
nơi nào đó trên quần hoặc áo khoác của họ. Bất cứ lính canh nào muốn
hoạnh họe tù nhân thì chỉ cần liếc nhìn con số ấy (ánh nhìn đó thật đáng sợ);
hắn chẳng bao giờ cần hỏi tên của người tù ấy làm gì.
Trở về với cuộc vận chuyển, ở đây không có thời gian lẫn nhu cầu xem
xét các vấn đề về đạo lý. Mỗi người chỉ có một suy nghĩ trong đầu: cố gắng
sống sót vì gia đình đang chờ mình ở nhà, và cứu các bạn mình. Vì vậy,
người đó sẽ không do dự khi tìm cách dàn xếp cho một tù nhân khác - một
“con số” khác - thế chỗ cho mình trên chuyến vận chuyển đó.
Như tôi đã đề cập trước đó, quy trình chọn ra các Capo là một quy trình
tiêu cực; chỉ những tù nhân hung bạo nhất mới được chọn để làm những
công việc này (mặc dù cũng có những ngoại lệ thú vị). Nhưng ngoài việc
tuyển chọn các Capo được lực lượng SS tiến hành, còn có một loại quá trình
tự tuyển chọn luôn diễn ra giữa các tù nhân. Nhìn chung, chỉ còn những tù
nhân như thế mới có thể sống sót, những người sau nhiều năm lê lết từ trại
này sang trại khác, đã đánh mất mọi cảm thức lương tâm trong cuộc chiến
sống còn. Họ sẵn sàng sử dụng bất cứ cách thức nào, trung thực hay không,
thậm chí tàn bạo, trộm cướp và phản bội bạn bè của họ để giữ lại mạng sống
cho mình. Những người được trở về nhờ vào sự may mắn hoặc một phép
màu nào đó hay vì lý do gì đi nữa như chúng tôi đều biết rằng: những điều
tốt đẹp nhất trong chúng tôi đã không bao giờ trở lại. Đã có nhiều trình thuật
về những dữ kiện xảy ra trong các trại tập trung. Ở đây, các sự việc chỉ có ý
nghĩa nếu chúng là một phần trải nghiệm của con người. Khảo luận sau đây
sẽ cố gắng miêu tả bản chất đích thực của các trải nghiệm ấy. Đối với những
bạn tù của tôi, tôi sẽ cố gắng khắc họa những trải nghiệm của họ theo cách
hiểu hiện nay. Và với những người chưa từng ở trại, những miêu tả của tôi
có thể giúp họ hiểu và hiểu rõ hơn những trải nghiệm của rất ít tù nhân sống
sót và đang gặp khó khăn với cuộc sống hiện tại. Thông thường, họ không
muốn nói về những trải nghiệm ấy. Họ không cần một lời giải thích nào,
cũng như những người khác sẽ không thể hiểu được cảm nhận của họ khi ấy
cũng như bây giờ.
Tôi đã nỗ lực trình bày một cách hệ thống về chủ đề này, nhưng thật sự
đây là một việc rất khó, bởi vì tâm lý học cần sự nhận xét khách quan, khoa
học. Liệu những quan sát, nghiên cứu từ một tù nhân có đủ sự khách quan
cần thiết hay không? Những người ở ngoài trại tất nhiên sẽ có cái nhìn khách
quan hơn, nhưng họ lại không có đủ trải nghiệm thực tế để có thể đưa ra
nhận định về chân giá trị từ cuộc sống của những con người từng phải chịu
đựng bao đau đớn cùng cực. Chỉ có người trong trại mới hiểu được. Trong
tác phẩm của mình, tôi cố gắng không áp đặt bất kỳ ý niệm chủ quan nào, và
đó là điều thực sự khó khăn đối với một cuốn sách như thế này. Để nói lên
những trải nghiệm rất riêng của bản thân đôi khi cần phải có dũng khí. Tôi
đã định viết cuốn sách này mà không công bố tên tác giả, chỉ sử dụng số hiệu
trong tù của mình. Nhưng khi bản thảo hoàn thành, tôi nhận thấy rằng, khi
công bố sách mà giấu tên người viết thì cuốn sách sẽ bị giảm phân nửa giá
trị. Tôi cần phải chịu trách nhiệm với đứa con tinh thần của mình, và trước
hiện thực lịch sử. Tôi có thể khẳng định tôi là người không hề thích phô bày
sự việc, song trong quá trình thực hiện tập sách này, tôi giữ quan điểm trung
thành với hiện thực lịch sử, không cắt xén cũng không thêu dệt.
Tôi sẽ nhường phần phán xét cho các bạn - những độc giả đáng mến. Các
bạn có thể tự rút ra những luận điểm lý thuyết khô khan sau khi tìm hiểu nội
dung của cuốn sách. Những luận điểm này có thể góp phần vào việc nghiên
cứu tâm lý của người tù, được tiến hành từ sau Thế chiến thứ nhất; những
luận điểm này cũng không xa lạ với chúng tôi qua “hội chứng dây kẽm gai”.
Nhìn từ góc độ tích cực, Thế chiến thứ hai đã giúp giới nghiên cứu chúng tôi
bổ sung thêm kiến thức về “tâm lý học đại chúng” (xin phép được trích dẫn
thuật ngữ khá nổi tiếng và cũng là tựa đề một cuốn sách của LeBon). Cuộc
chiến ngoài đời cũng đã đem lại cho chúng tôi cả trại tập trung lẫn cuộc
chiến của các sợi thần kinh.
Mục đích tôi viết tập sách này là muốn nói lên những trải nghiệm của tôi
với tư cách là một tù nhân bình thường. Tôi có thể tự hào khi tuyên bố rằng
tôi không được tuyển vào trại với tư cách của một chuyên gia tâm thần hay
như một bác sĩ, ngoại trừ những tuần cuối trong trại. Một số đồng nghiệp của
tôi khá may mắn khi được chọn vào làm việc trong các trạm sơ cứu nóng
bức, thiếu thốn, sử dụng các miếng băng gạc đượng làm từ đống giấy thải.
119.104 là số hiệu của tôi trong trại, công việc của tôi gắn liền với chiếc
xẻng đào đất và dụng cụ lắp ráp các thanh sắt trên đường ray xe lửa. Có lần,
tôi được phân công đào hầm một mình để tạo đường nước ngầm bên dưới
con đường và tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Với thành tích này, chỉ ngay trước
lễ Giáng sinh năm 1944, tôi đã được tưởng thưởng một món quà mà mọi
người thường gọi là “phiếu ưu đãi”. Những phiếu này do một công ty xây
dựng phát hành, chúng tôi buộc phải làm việc cho công ty này như những nô
lệ. Tiền công mỗi ngày của mỗi tù nhân sẽ được trả cho các trại trưởng, có
khi được thanh toán dưới dạng những tấm phiếu ưu đãi. Mỗi tấm phiếu này
có giá trị tương đương với 50 xu Đức thời đó và có thể dùng để đổi lấy sáu
điều thuốc, nhưng thường là sau nhiều tuần lao động cực nhọc những tấm
phiếu này mới đến tay chúng tôi, và đôi khi chúng không còn hiệu lực nữa.
Tôi tự hào trở thành người sở hữu những tấm phiếu có giá trị tương đương
12 điếu thuốc. Nhưng quan trọng hơn là những điếu thuốc có thể đổi được
12 phần xúp, và 12 phần xúp thực sự giúp tôi chống chọi với cơn đói.
Thực ra, đặc quyền hút thuốc được dành cho các Capo - những người có
được mức phiếu tiêu chuẩn mỗi tuần; hoặc có thể dành cho một tù nhân làm
quản đốc trong nhà kho hoặc phân xưởng, được nhận một số điếu thuốc để
làm những công việc nguy hiểm. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là dành cho
những người đã mất đi ý chí sinh tồn và muốn “tận hưởng” những ngày cuối
cùng. Vì vậy, khi chúng tôi nhìn thấy một người đang được bao quanh bởi
làn khói thuốc mờ đục như chìm trong cõi vô thức thì chúng tôi biết rằng anh
ấy đã từ bỏ niềm tin, và một khi niềm tin ấy đã mất đi thì lòng ham sống
cũng không còn nữa.
Khi kiểm tra vô số tài liệu được tích lũy từ nhiều quan sát và trải nghiệm
của các tù nhân, ta sẽ thấy rõ ba giai đoạn phản ứng tinh thần của người tù
đối với cuộc sống trong trại: giai đoạn đầu sau khi nhập trại; giai đoạn khi đã
quen với cuộc sống trong trại; và giai đoạn sau khi được thả tự do.
Triệu chứng đặc trưng cho giai đoạn đầu là việc bị sốc. Trong một số
hoàn cảnh nhất định, cú sốc diễn ra trước cả khi các tù nhân nhập trại. Tôi sẽ
đưa ra ví dụ về việc nhập trại của tôi:
Một nghìn năm trăm người được vận chuyển bằng xe lửa trong nhiều
ngày đêm: có tám mươi người ở mỗi toa xe. Tất cả đều phải ngồi lên hành lý
của mình - đây là số tài sản cá nhân ít ỏi còn sót lại. Các toa xe chật đến nỗi
ánh bình minh xám xịt chỉ có thể xuyên vào khe hở ở phía trên cửa sổ. Mọi
người đều mong muốn chuyến xe sẽ đưa họ đến một nhà máy sản xuất vũ
khí - nơi họ sẽ được làm việc như những lao động bắt buộc. Chúng tôi không
biết mình còn đang ở Silessia hay đã đến Ba Lan rồi. Tiếng rít của động cơ
thật quái đản, giống như một tiếng cầu cứu được gửi ra từ chuyến đi bất hạnh
đang hướng đến đại ngục. Chiếc xe đột nhiên chuyển hướng, rõ ràng nó đang
tới gần trạm. Thình lình, một tiếng khóc bật lên từ giữa những con người
đang lo lắng: “Có bảng hiệu kìa, Auschwitz!”. Tim tất cả mọi người như
ngừng đập vào lúc ấy. Auschwitz - một cái tên gợi lên tất cả những gì khủng
khiếp nhất: phòng hơi ngạt, lò thiêu, sự chết chóc. Chiếc xe ì ạch trên đường
như thể nó muốn cho hành khách của mình tránh được càng lâu càng tốt cái
thực tại đáng sợ đang ùa đến: Auschwitz!
Bóng đêm dần khuất dạng, những đường nét của một trại giam khổng lồ
dần hiện ra: hàng rào kẽm gai lưới điện; những tháp canh; những chiếc đèn
pha; và hàng dãy những người ăn mặc rách rưới lờ mờ hiện lên trong buổi
hừng đông u ám, lê bước trên những con đường hoang phế đến một nơi mà
chúng tôi không hề biết. Có những tiếng la hét và tiếng còi ra lệnh. Chúng
tôi không hiểu gì cả. Trí tưởng tượng của tôi hình dung ra chiếc giá treo cổ
với những xác người đang giãy giụa. Tôi khiếp sợ, nhưng cũng chẳng sao,
bởi vì từ từ rồi chúng tôi cũng phải quen với cảnh khiếp sợ và ghê rợn ấy
thôi.
Cuối cùng, chúng tôi tiến vào trạm. Không gian yên ắng trước đó đã bị
phá vỡ bởi nhiều tiếng quát tháo ra lệnh. Kể từ đây, chúng tôi sẽ phải nghe
những âm thanh khản đục, gào thét không ngừng vọng ra từ tất cả các trại.
Những âm thanh này nghe như tiếng thét cuối cùng của nạn nhân, nhưng có
phần còn thảm thiết hơn thế nữa. Nó là âm thanh gay gắt, khản đục, như thể
được phát ra từ cổ họng của một người cứ phải rên thét mãi, một người đã bị
tra tấn, hành hạ đến mức chết đi sống lại không biết đã bao nhiêu lần. Cửa
mở, một số tù nhân bên trong trại ùa đến. Họ mặc những bộ đồng phục có
sọc vằn, đầu cạo trọc, nhưng trông họ khá khỏe mạnh. Các tù nhân ở đây đến
từ các quốc gia châu Âu khác nhau, có người chỉ biết tiếng mẹ để của mình,
vì thế họ cố gắng trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ riêng của mình. Trong
hoàn cảnh cận kề cái chết này, những giọng nói đa quốc gia ấy khiến tôi cảm
thấy tức cười, thậm chí kỳ quái. Giống như người chết đuối nắm được một
khúc cây, tính lạc quan bẩm sinh của tôi (thật may mắn là trong những tình
huống tuyệt vọng nhất, phẩm chất này trong tôi thường xuất hiện) đưa tôi
đến suy nghĩ: Những tù nhân này trông hoàn toàn khỏe mạnh, họ có vẻ khá
thoải mái và thậm chí còn cười đùa được. Biết đâu mình cũng sẽ được như
họ.
Trong tâm lý học, đây là một trạng thái được gọi là chứng “ảo tưởng miễn
tội”. Người bị kết án, trước khi bị hành quyết, có ảo tưởng rằng mình sẽ
được ân xá vào phút cuối. Chúng tôi cũng cố bám víu vào tia hy vọng ấy và
tin rằng sự việc cũng sẽ không đến nỗi quá tệ. Việc nhìn thấy đôi má hồng
hào, khuôn mặt đầy đặn của những tù nhân này là khích lệ đáng kể đối với
chúng tôi. Sau này chúng tôi mới biết chút ít rằng họ là những người được
chọn để thành lập một đội đặc biệt, trong nhiều năm chuyên tiếp nhận các tù
nhân mới được chuyển vào trại mỗi ngày với số lượng và tần suất càng tăng.
Những người thuộc đội kiểm tra này chịu trách nhiệm lục soát những người
mới đến bao gồm cả hành lý, vật dụng quý giá và nữ trang mà những người
bị bắt đã lén mang theo. Như vậy, những đồ vật độc đáo bằng vàng, bạc,
bạch kim và kim cương không chỉ nằm trong những kho lưu trữ chiến lợi
phẩm của Đức quốc xã mà còn ở trong tay của lính SS.
Một ngàn rưỡi người bị giam trong một khu được xây dựng có sức chứa
tối đa khoảng hai trăm người. Chúng tôi lạnh và đói. Không đủ chỗ cho mỗi
người ngồi trên nền đất trống, nói chi chỗ đề ngả lưng. Khẩu phần ăn của
chúng tôi trong suốt bốn ngày chỉ là một mẩu bánh mì ít ỏi. Rồi tôi nghe các
tù nhân lâu năm đảm trách việc trông coi trại mặc cả với một người trong
nhóm tiếp nhận về một cái kẹp cà vạt bằng bạch kim đính kim cương. Đến
cả những chiến lợi phẩm cuối cùng họ chia nhau cũng được dùng để đổi lấy
rượu - rượu sơ-náp[6]. Tôi không nhớ rõ cần bao nhiêu ngàn mác Đức để đổi
lấy lượng rượu sơ-náp đủ cho một “tối vui vẻ” nữa, nhưng tôi biết rõ rằng
các tù nhân lâu năm đó cần rượu sơ-nap. Trong những hoàn cảnh như thế
này, ai có thể trách họ về việc say sưa chứ? Có một nhóm tù nhân khác được
lính SS cung cấp rượu không hạn chế: họ là những người được tuyển dụng
làm việc trong các phòng hơi ngạt và lò thiêu. Họ biết rõ một ngày nào đó họ
sẽ bị thay thế bởi một nhóm khác và phải rời bỏ vai trò kẻ hành quyết miễn
cưỡng để chính họ trở thành nạn nhân.
Hầu như mọi người đi cùng tôi trong chuyến xe tử thần ấy đều sống trong
ảo tưởng rằng họ sẽ được ân xá, rằng mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp. Chúng tôi đã
không nhận thấy sự thật trần trụi đằng sau những cảnh tượng nối tiếp ngay
sau đó. Chúng tôi bị yêu cầu để lại hành lý trong xe và bước xuống xếp
thành hai hàng - phụ nữ một bên, đàn ông một bên - để một tên lính SS cấp
cao kiểm tra chúng tôi. Giờ đây nghĩ lại, tôi vẫn ngạc nhiên vì khi đó tôi đã
có đủ can đảm để giấu chiếc ba lô vào bên trong chiếc áo khoác. Từng người
một trong hàng bị lục soát. Thật nguy hiểm nếu một lính SS nào đó phát hiện
chiếc ba lô của tôi. Kinh nghiệm cho tôi biết, nếu bị lộ, ít nhất tôi sẽ bị đánh
tơi tả. Theo bản năng, tôi thẳng người tiến đến chỗ tên lính chịu trách nhiệm
kiểm soát tù nhân để hắn không chú ý đến dáng vẻ nặng nhọc do chiếc ba lô
của tôi gây ra. Rồi tôi cũng đối mặt với hắn. Hắn có dáng người cao ốm, vừa
vặn trong bộ đồng phục mới nguyên. Bộ dạng...
Viktor E. Frankl
Nguyên tác: Trotzdem Ja zum Leben sagen: Ein Psychologe erlebt das
Konzentrationslager
Biên dịch: Đặng Ngọc Thảo - Giang Thủy - Ngọc Hân
Công ty phát hành: First News - Trí Việt
Nhà xuất bản: NXB Trẻ
Số trang: 224 trang
Ngày xuất bản: 08-2011
∞ ∞ ∞ ∞ ∞
Đánh máy: notrinos
Soát lỗi & đóng gói: Bố Bủm Xì
Ngày hoàn thành: 29-05-2016
Nguồn: Tve-4u
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI GIỚI THIỆU CHO LẦN ẤN BẢN NĂM 1992
PHẦN 1: NHỮNG TRẢI NGHIỆM TRONG TRẠI TẬP TRUNG
PHẦN 2: SƠ LƯỢC VỀ LIỆU PHÁP Ý NGHĨA
TÁI BÚT 1984
LỜI CUỐI
Viktor Emil Frankl (1905 - 1977)
Một lần, mọi người yêu cầu Viktor Frankl tóm gọn ý nghĩa cuộc sống của
ông trong chỉ một câu. Ông đã viết câu trả lời trên giấy và hỏi lại các sinh
viên xem họ đoán ông đã viết gì.
Sau một hồi im lặng, một sinh viên phát biểu: “Ý nghĩa cuộc sống của
thầy là giúp người khác tìm ra ý nghĩa cuộc sống của họ”.
“Chính xác” - Frankl nói. - “Đó chính là những lời mà tôi đã viết”.
LỜI NÓI ĐẦU
Đi tìm lẽ sống của Viktor Frankl là một trong những quyển sách kinh điển
của thời đại. Thông thường, nếu một quyển sách chỉ có một đoạn văn, một ý
tưởng có sức mạnh thay đổi cuộc sống của một người, thì chỉ riêng điều đó
cũng đã đủ để chúng ta đọc đi đọc lại và dành cho nó một chỗ trên kệ sách
của mình. Quyển sách này có nhiều đoạn văn như thế.
Trước hết, đây là quyển sách viết về sự sinh tồn. Giống như nhiều người
Do Thái sinh sống tại Đức và Đông Âu khi ấy, vốn nghĩ rằng mình sẽ được
an toàn trong những năm 1930, Frankl đã trải qua khoảng thời gian chịu
nhiều nghiệt ngã trong trại tập trung và trại hủy diệt của Đức quốc xã. Điều
kì diệu là ông đã sống sót, cụm từ “thép đã tôi thế đấy” có thể lột tả chính
xác trường hợp này. Nhưng trong quyển sách này, tác giả ít đề cập đến
những khó nhọc, đau thương, mất mát mà ông đã trải qua, thay vào đó ông
viết về những nguồn sức mạnh đã giúp ông tồn tại. Nhiều lần trong quyển
sách này, Frankl hay trích dẫn lời của Nietzche[1]: “Người nào có lý do để
sống thì có thể tồn tại trong mọi nghịch cảnh”. Ông chua xót kể về những tù
nhân đã đầu hàng cuộc sống, mất hết hy vọng ở tương lai và chắc hẳn là
những người đầu tiên sẽ chết. Ít người chết vì thiếu thức ăn và thuốc men,
mà phần lớn họ chết vì thiếu hy vọng, thiếu một lẽ sống. Ngược lại, Frankl
đã nuôi giữ hy vọng để giữ cho mình sống sót bằng cách nghĩ về người vợ
của mình và trông chờ ngày gặp lại nàng. Ông còn mơ ước sau chiến tranh sẽ
được thuyết giảng về các bài học tâm lý ông đã học được từ trại tập trung
Auschwitz. Rõ ràng có nhiều tù nhân khao khát được sống đã chết, một số
chết vì bệnh, một số chết vì bị hỏa thiêu. Trong tập sách này, Frankl tập
trung lí giải nguyên nhân vì sao có những người đã sống sót trong trại tập
trung của phát xít Đức hơn là đưa ra lời giải thích cho câu hỏi vì sao phần
lớn trong số họ đã không bao giờ trở về nữa.
Những trải nghiệm kinh hoàng của tác giả trong trại tập trung Auschwitz
đã củng cố một trong những quan điểm chính của ông: Cuộc sống không
phải chỉ là tìm kiếm khoái lạc, như Freud[2] tin tưởng, hoặc tìm kiếm quyền
lực, như Alfred Adler[3] giảng dạy, mà là đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Nhiệm
vụ lớn lao nhất của mỗi người là tìm ra ý nghĩa trong cuộc sống của mình.
Frankl đã nhìn thấy ba nguồn ý nghĩa cơ bản của đời người: thành tựu trong
công việc, sự quan tâm chăm sóc đối với những người thân yêu và lòng can
đảm khi đối mặt với những thời khắc gay go của cuộc sống. Đau khổ tự bản
thân nó không có ý nghĩa gì cả, chính cách phản ứng của chúng ta mới khoác
lên cho chúng ý nghĩa. Frankl đã viết rằng một người “có thể giữ vững lòng
quả cảm, phẩm giá và sự bao dung, hoặc người ấy có thể quên mất phẩm giá
của con người và tự đặt mình ngang hàng loài cầm thú trong cuộc đấu tranh
khắc nghiệt để sinh tồn”. Ông thừa nhận rằng chỉ có một số ít tù nhân của
Đức quốc xã là có thể giữ được những phẩm chất ấy, nhưng “chỉ cần một ví
dụ như thế cũng đủ chứng minh rằng sức mạnh bên trong của con người có
thể đưa người ấy vượt lên số phận nghiệt ngã của mình”.
Frankl luôn trung thành với quan điểm: Những thế lực vượt quá khả năng
kiểm soát của bạn có thể lấy đi mọi thứ mà bạn có, chỉ trừ một thứ, đó là sự
tự do chọn lựa cách bạn phản ứng trước hoàn cảnh. Tôi luôn áp dụng quan
điểm này của Frankl trong suốt cuộc đời mình cũng như trong vô số tình
huống tư vấn. Bạn không thể kiểm soát điều gì sẽ xảy ra trong đời mình,
nhưng bạn luôn có thể kiểm soát cách đón nhận cũng như cách phản ứng
trước mọi tình huống của cuộc sống.
Có một cảnh trong vở kịch Incident at Vichy (Sự cố tại Vichy) của Arthur
Miller, trong đó, một người đàn ông trung lưu xuất hiện trước chính quyền
Đức quốc xã, vốn đang chiếm đóng thị trấn của ông và trưng ra bằng cấp của
mình: tấm bằng đại học, các lá thư tham khảo do những người có tiếng tăm
viết, v.v. Tên lính Đức quốc xã hỏi ông: “Mày chỉ có thế thôi sao?”. Người
đàn ông gật đầu. Tên lính quăng tất cả vào sọt rác và nói: “Tốt, giờ mày
chẳng còn gì nữa”. Người đàn ông cảm thấy bị tổn thương nặng nề. Frankl
đã nói rằng chúng ta sẽ không bao giờ mất đi tất cả nếu chúng ta vẫn còn
được tự do lựa chọn cách phản ứng với sự việc.
Trải nghiệm tôn giáo của tôi đã cho tôi thấy chân lý trong quan điểm của
Frankl. Tôi biết có nhiều doanh nhân thành công sau khi nghỉ hưu, đã mất
hết mọi nhiệt huyết với cuộc sống. Với họ, dường như ý nghĩa cuộc sống chỉ
xoay quanh hai chữ “công việc”. Vì vậy, khi không có việc làm nữa, họ cảm
thấy cuộc sống trở nên vô vị. Mỗi ngày qua đi, họ lặng lẽ ngồi trong nhà băn
khoăn thấy mình “không biết làm gì”. Tôi biết nhiều người đã trưởng thành
từ khả năng chịu đựng phi thường của họ một khi họ có lòng tin rằng những
tai họa, nghịch cảnh của họ đang chịu đựng không vô ích. Đa phần đối với
mọi người, việc có một lý do để sống khiến cho họ có thể chịu được Mọi
hoàn cảnh, có thể đó là mong muốn được cùng mọi người trong gia đình
gánh vác một trọng trách nào đó hoặc hy vọng các bác sĩ sẽ tìm ra phương
thuốc điều trị căn bệnh của họ.
Tuy Frankl và tôi có những trải nghiệm không giống nhau song những gì
chúng tôi rút ra được từ những bài học cuộc sống có nhiều điểm tương đồng.
Những quan điểm trong tập sách When bad Things Happen to Good People
(Khi điều tồi tệ xảy ra với người tốt) có được sự tín nhiệm của độc giả bởi vì
chúng được rút ra từ chính những trải nghiệm của tôi trong quá trình tìm
hiểu căn bệnh dẫn đến cái chết của con trai mình. Trong khi đó, học thuyết
về liệu pháp ý nghĩa của Frankl trình bày phương thức chữa trị vết thương
cho tâm hồn bằng cách dẫn dắt nó đi tìm ý nghĩa cuộc sống, những trang viết
được đúc kết từ trải nghiệm mà tác giả phải chịu ở Auschwitz đã lập tức
nhận được sự đồng cảm và ủng hộ của độc giả. Bạn không thể tiếp nhận toàn
bộ giá trị sâu sắc của tập sách này nếu chỉ đọc phần sau mà bỏ qua nửa đầu
của cuốn sách.
Một điểm rất có ý nghĩa nữa, là lời đề tựa cho ấn bản năm 1962, được viết
bởi Gordon Allport - một nhà tâm lý học nổi tiếng, còn trong lần này, lời đề
tựa được viết bởi một giáo sĩ. Đây là một quyển sách có bàn về những nội
dung rất sâu sắc liên quan đến lĩnh vực tôn giáo. Nó thể hiện tư tưởng chủ
đạo của tác giả là cuộc sống co ý nghĩa và chúng ta phải học cách nhìn cuộc
sống theo hướng có ý nghĩa bất kể hoàn cảnh nào đi nữa. Tác phẩm cũng
nhấn mạnh một điều: cuộc sống này có một ý nghĩa tối hậu. Và trong bản
gốc, trước khi bổ sung phần tái bút, Frankl đã kết thúc quyển sách bằng
những lời đậm chất tôn giáo nhất của thế kỉ hai mươi:
Chúng ta đã đến chỗ biết được Con người thực sự là gì. Rốt cuộc, con
người là hữu thể đã tạo ra phòng hơi ngạt ở Auschwitz, nhưng cũng là hữu
thể hiên ngang bước vào phòng hơi ngạt với kinh Lạy Cha hoặc câu kinh
Shema Yisrael[4] trên môi.
HAROLD S. KUSHNER[5]
LỜI GIỚI THIỆU CHO LẦN ẤN BẢN
NĂM 1992
Cho đến nay, quyển sách này được phát hành gần 100 lần bằng tiếng Anh
và đã được xuất bản dưới 21 ngôn ngữ. Chỉ riêng các bản tiếng Anh đã được
bán hơn 3 triệu bản.
Những thông số trên hoàn toàn là sự thật, và có lẽ chúng là lí do tại sao
các phóng viên của nhiều tờ báo ở Mỹ, nhất là các đài truyền hình Mỹ
thường bắt đầu buổi phỏng vấn, sau khi đã liệt kê các con số thực tế, bằng lời
ca tụng: “Thưa tiến sĩ Frankl, cuốn sách của ông luôn nằm trong danh sách
những ấn phẩm được đông đảo độc giả đánh giá cao. Ông cảm thấy thế nào
về thành công này?”. Lúc ấy tôi luôn trả lời rằng trước hết, tôi không hề xem
tình trạng ăn khách của cuốn sách là một thành tựu hay thành công gì về phía
bản thân tôi cho bằng đó là biểu hiện cho nỗi bất hạnh của thời đại: nếu hàng
trăm ngàn người tìm kiếm một cuốn sách mà tiêu đề của nó hứa hẹn sẽ giải
quyết vấn đề về ý nghĩa cuộc sống, thì đây chắc hẳn là một vấn đề gai góc
với họ.
Hiển nhiên, ấn tượng của cuốn sách còn nhờ đến những yếu tố khác nữa.
Phần hai nặng tính lý thuyết hơn, và có thể nói nó đã cô đọng thành bài học
mà người đọc có thể rút ra từ phần đầu cuốn sách, phần tự thuật. Trong khi
đó, phần một có tác dụng như những bằng chứng xác thực, là cơ sở thực tế
cho các lý thuyết của tôi. Như vậy, cả hai phần đều giúp cho nhau có được
tính thuyết phục.
Vào năm 1945, khi thực hiện tập sách này, trong đầu tôi chưa bao giờ có
ý niệm rằng mình viết sách để trở thành người nổi tiếng hay đạt được thành
công gì đó. Trong suốt 9 ngày liên tiếp, tôi đã trăn trở rất nhiều trước khi đi
đến quyết định không tiết lộ tên người viết. Sự thật là, bản in đầu tiên bằng
tiếng Đức đã không có tên tôi trên trang bìa, mặc dù vào phút cuối, trước khi
sách được xuất bản, tôi đồng ý để tên mình trong trang tiêu đề theo lời
khuyên của bạn bè. Trong tôi luôn đinh ninh một điều rằng một tác phẩm
khuyết danh sẽ không thể nào đem lại tên tuổi cho tác giả. Mục đích của tôi
đơn thuần chỉ là muốn chuyển tải đến độc giả một ví dụ cụ thể, cho thấy rằng
trong mọi hoàn cảnh, cuộc sống bao giờ cũng chứa đựng một ý nghĩa nào đó,
cho dù đó là hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Và tôi cho rằng nếu một quan điểm
được minh họa từ những trải nghiệm khắc nghiệt như ở trại tập trung thì
cuốn sách của tôi sẽ thêm tính thuyết phục. Vì vậy, tôi cảm thấy có trách
nhiệm viết ra những gì mình đã trải qua, bởi vì tôi nghĩ rằng nó có thể giúp
được những người đang trên bờ tuyệt vọng.
Và vì thế, điều khiến tôi cảm thấy kì lạ và chú ý là - trong số hàng chục
cuốn sách mà tôi là tác giả thì chính cuốn này, cuốn sách mà tôi có ý định
giữ kín tên tuổi lại đạt được thành công. Vì vậy, rất nhiều lần, tôi đã răn bảo
các học trò của mình ở châu Âu và ở Mỹ rằng: “Đừng nhắm vào thành công
- vì các em càng nhắm vào nó, và muốn đạt tới nó, thì các em càng dễ trượt
qua nó. Vì thành công, cũng giống như hạnh phúc, không thể tìm kiếm mà
có; nó phải tự sản sinh ra, và chỉ có thể xuất hiện khi một người cống hiến
hết mình, hoặc sống vì người khác hơn là vì bản thân mình. Hạnh phúc sẽ
đến, và thành công cũng sẽ xuất hiện: các em phải để nó diễn ra bằng cách
đừng quan tâm đến nó. Tôi muốn các em lắng nghe những gì mà lương tâm
các em ra lệnh phải làm và tiếp tục thực hiện hết mình. Và các em sẽ thấy
rằng về lâu dài - tôi nhấn mạnh là về lâu dài - thành công sẽ đến với các em
bởi vì các em đã quên nghĩ về nó!”.
Các độc giả có thể thắc mắc tại sao tôi không tìm cách thoát ly sau khi
Hitler chiếm Áo. Hãy để tôi trả lời bằng cách kể lại câu chuyện sau. Ngay
trước khi nước Mỹ tham chiến, tôi nhận được thư mời đến Lãnh sự quán Mỹ
đặt tại Vienna để nhận giấy thị thực nhập cảnh đến Mỹ. Cha mẹ tôi rất vui
mừng vì họ muốn tôi nhanh chóng rời khỏi nước Áo. Thế nhưng tôi bỗng
nhiên do dự: Liệu tôi có thể để cha mẹ ở lại một mình đối mặt với số phận,
và chẳng sớm thì muộn, họ cũng sẽ bị đưa đến trại tập trung, hoặc thậm chí
bị đưa đến trại hủy diệt? Lẽ nào tôi là một người vô trách nhiệm? Liệu tôi có
nên đi đến một vùng đất trù phú, có những điều kiện thuận lợi giúp tôi nuôi
dưỡng đứa con tinh thần của mình - Liệu pháp ý nghĩa (logotherapy)? Hay
tôi nên nhận lãnh trách nhiệm của một người con hiếu thuận đối với cha mẹ những người đã không tiếc cả mạng sống của mình để bảo vệ tôi? Tôi đã đắn
đo, trăn trở rất nhiều nhưng vẫn không thể đưa ra quyết định cuối cùng. Đây
đúng là tình huống khó khăn như khi người ta chỉ được ước một lần.
Chính khi đó, tôi trông thấy một mẩu đá hoa nằm trên mặt bàn. Tôi hỏi
cha, và ông giải thích rằng ông đã tìm thấy nó tại nơi mà những người theo
Đảng Xã hội quốc gia đã thiêu cháy thánh đường lớn nhất của người Do
Thái tại Vienna. Mẩu đá cha tôi mang về nhà là một phần của những phiến
đá có khắc Mười điều răn của Chúa, trong đó có một ký tự tiếng Hebrew mạ
vàng được khắc trên phiến đá; cha tôi nói rằng ký tự này đại diện cho một
trong Mười điều răn. Tò mò, tôi hỏi ông: “Thưa cha, điều răn đó nói gì ạ?”.
Ông trả lời: “Hãy tôn kính cha mẹ, để ngươi được sống lâu trên đất”. Vào lúc
đó, tôi đã quyết định ở lại với cha mẹ của mình trên mảnh đất này, và tấm vé
thị thực nhập cảnh sang Hoa Kỳ đã không có cơ hội được dùng đến.
VIKTOR E. FRANKL
Vienna - Áo, 1992
PHẦN 1
NHỮNG TRẢI NGHIỆM TRONG TRẠI
TẬP TRUNG
Quyển sách này không hướng đến việc thuật lại những sự việc, sự kiện
lịch sử mà đây là tập sách viết về những trải nghiệm của cá nhân tôi, cũng là
những trải nghiệm mà hàng triệu tù nhân trong trại tập trung của Phát xít
Đức đã phải chịu đựng trong suốt một khoảng thời gian dài. Đây là câu
chuyện trong một trại tập trung, được một trong số những người sống sót kể
lại. Tập sách này không chú trọng những điều ghê rợn kinh hoàng, vốn được
mô tả khá nhiều (tuy rất ít người tin), mà nó viết về những nỗi dày vò nho
nhỏ. Nói cách khác, cuốn sách sẽ tìm cách trả lời câu hỏi: Các tù nhân nghĩ
về cuộc sống hàng ngày trong trại tập trung như thế nào?
Hầu hết các sự kiện được mô tả ở đây không xảy ra tại các trại tập trung
lớn và nổi tiếng mà ở trong những trại tập trung nhỏ, nơi hầu hết các sự cách
ly thực sự diễn ra. Câu chuyện này không phải nói về nỗi đau và cái chết của
những anh hùng và liệt sĩ, cũng không nói về các Capo nhiều đặc ân - hay về
những tù nhân nổi tiếng. Vì vậy, nó không tập trung nhiều vào nỗi đau của
những con người mạnh mẽ, mà nó tập trung vào những hy sinh, sự giày vò
và cái chết của số đông những nạn nhân vô danh mà không một tài liệu nào
ghi nhận. Họ chính là những người tù thông thường, những người không có
dấu hiệu đặc biệt trên tay áo, và bị các Capo coi thường. Trong khi những tù
nhân bình thường này không đủ ăn hoặc không có gì để ăn thì các Capo
không bao giờ biết đói; thực ra cuộc sống của nhiều Capo trong trại còn tốt
hơn cuộc sống bên ngoài của họ. Chính họ thường gây khó dễ với tù nhân
hơn là các lính canh, và cũng chính họ đánh đập các tù nhân tàn bạo hơn lính
SS (Đội bảo vệ của quan Phát xít). Dĩ nhiên những Capo này chỉ được chọn
từ những người tù có tính cách phù hợp với yêu cầu công việc. Nếu họ
không đáp ứng những gì đội ngũ lãnh đạo trông chờ thì ngay lập tức họ sẽ bị
đào thải. Vì vậy, khi được chọn, họ sẽ nhanh chóng trở nên tàn nhẫn giống
những tên lính SS và các trại trưởng. Càng độc ác và tàn bạo, các Capo càng
được cấp trên đánh giá cao.
Những người bên ngoài thường có cái nhìn chưa đúng về cuộc sống trong
trại - họ thường nhìn nhận về cuộc sống của các tù nhân bằng con mắt xót
xa, thương cảm. Họ hoàn toàn không biết rõ về cuộc đấu tranh sinh tồn vô
cùng khắc nghiệt giữa các tù nhân. Đây là một cuộc đấu tranh không ngơi
nghỉ vì miếng ăn hàng ngày, vì sự sống còn, vì lợi ích của bản thân hay vì
một người bạn tù.
Hãy lấy trường hợp vận chuyển tù nhân làm một ví dụ. Việc vận chuyển
thường được thông báo chính thức để đưa một số tù nhân đến một trại khác;
nhưng không khó để dự đoán rằng đích đến của những chuyến đi này có thể
là phòng hơi ngạt. Một nhóm những tù nhân bị bệnh hoặc không còn khả
nằng làm việc sẽ được chọn ra để đưa đến một trại tập trung lớn hơn, nơi có
trang bị phòng hơi ngạt và lò thiêu. Thông cáo tuyển chọn là dấu hiệu báo
trước sẽ có một cuộc ẩu đả hỗn loạn giữa các tù nhân hoặc giữa các nhóm
với nhau. Điều quan trọng là sau những trận quyết chiến sống còn này, tên
của một vài tù nhân sẽ được loại ra khỏi danh sách các nạn nhân, mặc dù mọi
người đều biết rõ rằng với mỗi một người được cứu thoát thì sẽ có một nạn
nhân khác bị thế vào.
Có một lượng tù nhân nhất định trên mỗi lượt vận chuyển, nhưng ở đây
số lượng không phải là vấn đề bởi vì mỗi tù nhân chẳng còn lại gì ngoài một
con số. Lúc nhập trại, tất cả giấy giấy tờ cũng như những vật sở hữu của họ
đều đã bị tịch thu (ít ra đây là cách thức ở Auschwitz). Vì vậy, mỗi tù nhân
có cơ hội để nói đại một cái tên hoặc một nghề nghiệp nào đó; và vì nhiều lý
do nhiều người đã làm thế. Những người phụ trách trại chỉ quan tâm đến các
số tù. Những con số này thường được xăm lên da của tù nhân, khâu lên một
nơi nào đó trên quần hoặc áo khoác của họ. Bất cứ lính canh nào muốn
hoạnh họe tù nhân thì chỉ cần liếc nhìn con số ấy (ánh nhìn đó thật đáng sợ);
hắn chẳng bao giờ cần hỏi tên của người tù ấy làm gì.
Trở về với cuộc vận chuyển, ở đây không có thời gian lẫn nhu cầu xem
xét các vấn đề về đạo lý. Mỗi người chỉ có một suy nghĩ trong đầu: cố gắng
sống sót vì gia đình đang chờ mình ở nhà, và cứu các bạn mình. Vì vậy,
người đó sẽ không do dự khi tìm cách dàn xếp cho một tù nhân khác - một
“con số” khác - thế chỗ cho mình trên chuyến vận chuyển đó.
Như tôi đã đề cập trước đó, quy trình chọn ra các Capo là một quy trình
tiêu cực; chỉ những tù nhân hung bạo nhất mới được chọn để làm những
công việc này (mặc dù cũng có những ngoại lệ thú vị). Nhưng ngoài việc
tuyển chọn các Capo được lực lượng SS tiến hành, còn có một loại quá trình
tự tuyển chọn luôn diễn ra giữa các tù nhân. Nhìn chung, chỉ còn những tù
nhân như thế mới có thể sống sót, những người sau nhiều năm lê lết từ trại
này sang trại khác, đã đánh mất mọi cảm thức lương tâm trong cuộc chiến
sống còn. Họ sẵn sàng sử dụng bất cứ cách thức nào, trung thực hay không,
thậm chí tàn bạo, trộm cướp và phản bội bạn bè của họ để giữ lại mạng sống
cho mình. Những người được trở về nhờ vào sự may mắn hoặc một phép
màu nào đó hay vì lý do gì đi nữa như chúng tôi đều biết rằng: những điều
tốt đẹp nhất trong chúng tôi đã không bao giờ trở lại. Đã có nhiều trình thuật
về những dữ kiện xảy ra trong các trại tập trung. Ở đây, các sự việc chỉ có ý
nghĩa nếu chúng là một phần trải nghiệm của con người. Khảo luận sau đây
sẽ cố gắng miêu tả bản chất đích thực của các trải nghiệm ấy. Đối với những
bạn tù của tôi, tôi sẽ cố gắng khắc họa những trải nghiệm của họ theo cách
hiểu hiện nay. Và với những người chưa từng ở trại, những miêu tả của tôi
có thể giúp họ hiểu và hiểu rõ hơn những trải nghiệm của rất ít tù nhân sống
sót và đang gặp khó khăn với cuộc sống hiện tại. Thông thường, họ không
muốn nói về những trải nghiệm ấy. Họ không cần một lời giải thích nào,
cũng như những người khác sẽ không thể hiểu được cảm nhận của họ khi ấy
cũng như bây giờ.
Tôi đã nỗ lực trình bày một cách hệ thống về chủ đề này, nhưng thật sự
đây là một việc rất khó, bởi vì tâm lý học cần sự nhận xét khách quan, khoa
học. Liệu những quan sát, nghiên cứu từ một tù nhân có đủ sự khách quan
cần thiết hay không? Những người ở ngoài trại tất nhiên sẽ có cái nhìn khách
quan hơn, nhưng họ lại không có đủ trải nghiệm thực tế để có thể đưa ra
nhận định về chân giá trị từ cuộc sống của những con người từng phải chịu
đựng bao đau đớn cùng cực. Chỉ có người trong trại mới hiểu được. Trong
tác phẩm của mình, tôi cố gắng không áp đặt bất kỳ ý niệm chủ quan nào, và
đó là điều thực sự khó khăn đối với một cuốn sách như thế này. Để nói lên
những trải nghiệm rất riêng của bản thân đôi khi cần phải có dũng khí. Tôi
đã định viết cuốn sách này mà không công bố tên tác giả, chỉ sử dụng số hiệu
trong tù của mình. Nhưng khi bản thảo hoàn thành, tôi nhận thấy rằng, khi
công bố sách mà giấu tên người viết thì cuốn sách sẽ bị giảm phân nửa giá
trị. Tôi cần phải chịu trách nhiệm với đứa con tinh thần của mình, và trước
hiện thực lịch sử. Tôi có thể khẳng định tôi là người không hề thích phô bày
sự việc, song trong quá trình thực hiện tập sách này, tôi giữ quan điểm trung
thành với hiện thực lịch sử, không cắt xén cũng không thêu dệt.
Tôi sẽ nhường phần phán xét cho các bạn - những độc giả đáng mến. Các
bạn có thể tự rút ra những luận điểm lý thuyết khô khan sau khi tìm hiểu nội
dung của cuốn sách. Những luận điểm này có thể góp phần vào việc nghiên
cứu tâm lý của người tù, được tiến hành từ sau Thế chiến thứ nhất; những
luận điểm này cũng không xa lạ với chúng tôi qua “hội chứng dây kẽm gai”.
Nhìn từ góc độ tích cực, Thế chiến thứ hai đã giúp giới nghiên cứu chúng tôi
bổ sung thêm kiến thức về “tâm lý học đại chúng” (xin phép được trích dẫn
thuật ngữ khá nổi tiếng và cũng là tựa đề một cuốn sách của LeBon). Cuộc
chiến ngoài đời cũng đã đem lại cho chúng tôi cả trại tập trung lẫn cuộc
chiến của các sợi thần kinh.
Mục đích tôi viết tập sách này là muốn nói lên những trải nghiệm của tôi
với tư cách là một tù nhân bình thường. Tôi có thể tự hào khi tuyên bố rằng
tôi không được tuyển vào trại với tư cách của một chuyên gia tâm thần hay
như một bác sĩ, ngoại trừ những tuần cuối trong trại. Một số đồng nghiệp của
tôi khá may mắn khi được chọn vào làm việc trong các trạm sơ cứu nóng
bức, thiếu thốn, sử dụng các miếng băng gạc đượng làm từ đống giấy thải.
119.104 là số hiệu của tôi trong trại, công việc của tôi gắn liền với chiếc
xẻng đào đất và dụng cụ lắp ráp các thanh sắt trên đường ray xe lửa. Có lần,
tôi được phân công đào hầm một mình để tạo đường nước ngầm bên dưới
con đường và tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Với thành tích này, chỉ ngay trước
lễ Giáng sinh năm 1944, tôi đã được tưởng thưởng một món quà mà mọi
người thường gọi là “phiếu ưu đãi”. Những phiếu này do một công ty xây
dựng phát hành, chúng tôi buộc phải làm việc cho công ty này như những nô
lệ. Tiền công mỗi ngày của mỗi tù nhân sẽ được trả cho các trại trưởng, có
khi được thanh toán dưới dạng những tấm phiếu ưu đãi. Mỗi tấm phiếu này
có giá trị tương đương với 50 xu Đức thời đó và có thể dùng để đổi lấy sáu
điều thuốc, nhưng thường là sau nhiều tuần lao động cực nhọc những tấm
phiếu này mới đến tay chúng tôi, và đôi khi chúng không còn hiệu lực nữa.
Tôi tự hào trở thành người sở hữu những tấm phiếu có giá trị tương đương
12 điếu thuốc. Nhưng quan trọng hơn là những điếu thuốc có thể đổi được
12 phần xúp, và 12 phần xúp thực sự giúp tôi chống chọi với cơn đói.
Thực ra, đặc quyền hút thuốc được dành cho các Capo - những người có
được mức phiếu tiêu chuẩn mỗi tuần; hoặc có thể dành cho một tù nhân làm
quản đốc trong nhà kho hoặc phân xưởng, được nhận một số điếu thuốc để
làm những công việc nguy hiểm. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là dành cho
những người đã mất đi ý chí sinh tồn và muốn “tận hưởng” những ngày cuối
cùng. Vì vậy, khi chúng tôi nhìn thấy một người đang được bao quanh bởi
làn khói thuốc mờ đục như chìm trong cõi vô thức thì chúng tôi biết rằng anh
ấy đã từ bỏ niềm tin, và một khi niềm tin ấy đã mất đi thì lòng ham sống
cũng không còn nữa.
Khi kiểm tra vô số tài liệu được tích lũy từ nhiều quan sát và trải nghiệm
của các tù nhân, ta sẽ thấy rõ ba giai đoạn phản ứng tinh thần của người tù
đối với cuộc sống trong trại: giai đoạn đầu sau khi nhập trại; giai đoạn khi đã
quen với cuộc sống trong trại; và giai đoạn sau khi được thả tự do.
Triệu chứng đặc trưng cho giai đoạn đầu là việc bị sốc. Trong một số
hoàn cảnh nhất định, cú sốc diễn ra trước cả khi các tù nhân nhập trại. Tôi sẽ
đưa ra ví dụ về việc nhập trại của tôi:
Một nghìn năm trăm người được vận chuyển bằng xe lửa trong nhiều
ngày đêm: có tám mươi người ở mỗi toa xe. Tất cả đều phải ngồi lên hành lý
của mình - đây là số tài sản cá nhân ít ỏi còn sót lại. Các toa xe chật đến nỗi
ánh bình minh xám xịt chỉ có thể xuyên vào khe hở ở phía trên cửa sổ. Mọi
người đều mong muốn chuyến xe sẽ đưa họ đến một nhà máy sản xuất vũ
khí - nơi họ sẽ được làm việc như những lao động bắt buộc. Chúng tôi không
biết mình còn đang ở Silessia hay đã đến Ba Lan rồi. Tiếng rít của động cơ
thật quái đản, giống như một tiếng cầu cứu được gửi ra từ chuyến đi bất hạnh
đang hướng đến đại ngục. Chiếc xe đột nhiên chuyển hướng, rõ ràng nó đang
tới gần trạm. Thình lình, một tiếng khóc bật lên từ giữa những con người
đang lo lắng: “Có bảng hiệu kìa, Auschwitz!”. Tim tất cả mọi người như
ngừng đập vào lúc ấy. Auschwitz - một cái tên gợi lên tất cả những gì khủng
khiếp nhất: phòng hơi ngạt, lò thiêu, sự chết chóc. Chiếc xe ì ạch trên đường
như thể nó muốn cho hành khách của mình tránh được càng lâu càng tốt cái
thực tại đáng sợ đang ùa đến: Auschwitz!
Bóng đêm dần khuất dạng, những đường nét của một trại giam khổng lồ
dần hiện ra: hàng rào kẽm gai lưới điện; những tháp canh; những chiếc đèn
pha; và hàng dãy những người ăn mặc rách rưới lờ mờ hiện lên trong buổi
hừng đông u ám, lê bước trên những con đường hoang phế đến một nơi mà
chúng tôi không hề biết. Có những tiếng la hét và tiếng còi ra lệnh. Chúng
tôi không hiểu gì cả. Trí tưởng tượng của tôi hình dung ra chiếc giá treo cổ
với những xác người đang giãy giụa. Tôi khiếp sợ, nhưng cũng chẳng sao,
bởi vì từ từ rồi chúng tôi cũng phải quen với cảnh khiếp sợ và ghê rợn ấy
thôi.
Cuối cùng, chúng tôi tiến vào trạm. Không gian yên ắng trước đó đã bị
phá vỡ bởi nhiều tiếng quát tháo ra lệnh. Kể từ đây, chúng tôi sẽ phải nghe
những âm thanh khản đục, gào thét không ngừng vọng ra từ tất cả các trại.
Những âm thanh này nghe như tiếng thét cuối cùng của nạn nhân, nhưng có
phần còn thảm thiết hơn thế nữa. Nó là âm thanh gay gắt, khản đục, như thể
được phát ra từ cổ họng của một người cứ phải rên thét mãi, một người đã bị
tra tấn, hành hạ đến mức chết đi sống lại không biết đã bao nhiêu lần. Cửa
mở, một số tù nhân bên trong trại ùa đến. Họ mặc những bộ đồng phục có
sọc vằn, đầu cạo trọc, nhưng trông họ khá khỏe mạnh. Các tù nhân ở đây đến
từ các quốc gia châu Âu khác nhau, có người chỉ biết tiếng mẹ để của mình,
vì thế họ cố gắng trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ riêng của mình. Trong
hoàn cảnh cận kề cái chết này, những giọng nói đa quốc gia ấy khiến tôi cảm
thấy tức cười, thậm chí kỳ quái. Giống như người chết đuối nắm được một
khúc cây, tính lạc quan bẩm sinh của tôi (thật may mắn là trong những tình
huống tuyệt vọng nhất, phẩm chất này trong tôi thường xuất hiện) đưa tôi
đến suy nghĩ: Những tù nhân này trông hoàn toàn khỏe mạnh, họ có vẻ khá
thoải mái và thậm chí còn cười đùa được. Biết đâu mình cũng sẽ được như
họ.
Trong tâm lý học, đây là một trạng thái được gọi là chứng “ảo tưởng miễn
tội”. Người bị kết án, trước khi bị hành quyết, có ảo tưởng rằng mình sẽ
được ân xá vào phút cuối. Chúng tôi cũng cố bám víu vào tia hy vọng ấy và
tin rằng sự việc cũng sẽ không đến nỗi quá tệ. Việc nhìn thấy đôi má hồng
hào, khuôn mặt đầy đặn của những tù nhân này là khích lệ đáng kể đối với
chúng tôi. Sau này chúng tôi mới biết chút ít rằng họ là những người được
chọn để thành lập một đội đặc biệt, trong nhiều năm chuyên tiếp nhận các tù
nhân mới được chuyển vào trại mỗi ngày với số lượng và tần suất càng tăng.
Những người thuộc đội kiểm tra này chịu trách nhiệm lục soát những người
mới đến bao gồm cả hành lý, vật dụng quý giá và nữ trang mà những người
bị bắt đã lén mang theo. Như vậy, những đồ vật độc đáo bằng vàng, bạc,
bạch kim và kim cương không chỉ nằm trong những kho lưu trữ chiến lợi
phẩm của Đức quốc xã mà còn ở trong tay của lính SS.
Một ngàn rưỡi người bị giam trong một khu được xây dựng có sức chứa
tối đa khoảng hai trăm người. Chúng tôi lạnh và đói. Không đủ chỗ cho mỗi
người ngồi trên nền đất trống, nói chi chỗ đề ngả lưng. Khẩu phần ăn của
chúng tôi trong suốt bốn ngày chỉ là một mẩu bánh mì ít ỏi. Rồi tôi nghe các
tù nhân lâu năm đảm trách việc trông coi trại mặc cả với một người trong
nhóm tiếp nhận về một cái kẹp cà vạt bằng bạch kim đính kim cương. Đến
cả những chiến lợi phẩm cuối cùng họ chia nhau cũng được dùng để đổi lấy
rượu - rượu sơ-náp[6]. Tôi không nhớ rõ cần bao nhiêu ngàn mác Đức để đổi
lấy lượng rượu sơ-náp đủ cho một “tối vui vẻ” nữa, nhưng tôi biết rõ rằng
các tù nhân lâu năm đó cần rượu sơ-nap. Trong những hoàn cảnh như thế
này, ai có thể trách họ về việc say sưa chứ? Có một nhóm tù nhân khác được
lính SS cung cấp rượu không hạn chế: họ là những người được tuyển dụng
làm việc trong các phòng hơi ngạt và lò thiêu. Họ biết rõ một ngày nào đó họ
sẽ bị thay thế bởi một nhóm khác và phải rời bỏ vai trò kẻ hành quyết miễn
cưỡng để chính họ trở thành nạn nhân.
Hầu như mọi người đi cùng tôi trong chuyến xe tử thần ấy đều sống trong
ảo tưởng rằng họ sẽ được ân xá, rằng mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp. Chúng tôi đã
không nhận thấy sự thật trần trụi đằng sau những cảnh tượng nối tiếp ngay
sau đó. Chúng tôi bị yêu cầu để lại hành lý trong xe và bước xuống xếp
thành hai hàng - phụ nữ một bên, đàn ông một bên - để một tên lính SS cấp
cao kiểm tra chúng tôi. Giờ đây nghĩ lại, tôi vẫn ngạc nhiên vì khi đó tôi đã
có đủ can đảm để giấu chiếc ba lô vào bên trong chiếc áo khoác. Từng người
một trong hàng bị lục soát. Thật nguy hiểm nếu một lính SS nào đó phát hiện
chiếc ba lô của tôi. Kinh nghiệm cho tôi biết, nếu bị lộ, ít nhất tôi sẽ bị đánh
tơi tả. Theo bản năng, tôi thẳng người tiến đến chỗ tên lính chịu trách nhiệm
kiểm soát tù nhân để hắn không chú ý đến dáng vẻ nặng nhọc do chiếc ba lô
của tôi gây ra. Rồi tôi cũng đối mặt với hắn. Hắn có dáng người cao ốm, vừa
vặn trong bộ đồng phục mới nguyên. Bộ dạng...
 





