Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nhung chuyen ke ve tam guong dao duc Ho Chi Minh

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Lan (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:00' 30-04-2024
Dung lượng: 502.4 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Lan (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:00' 30-04-2024
Dung lượng: 502.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Nhöõng chuyeän keå veà taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 1
NHÖÕNG CHUYEÄN KEÅ
VEÀ TAÁM GÖÔNG ÑAÏO ÑÖÙC
HOÀ CHÍ MINH
Taäp 2
2/
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Nhöõng chuyeän keå veà taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 3
THAØNH UÛY THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH
BAN TUYEÂN GIAÙO
NHÖÕNG CHUYEÄN KEÅ
VEÀ TAÁM GÖÔNG ÑAÏO ÑÖÙC
HOÀ CHÍ MINH
Taäp 2
Nhaø xuaát baûn Vaên hoùa - Vaên ngheä
TP. Hoà Chí Minh 2013
Trôøi coù boán muøa: Xuaân, Haï, Thu, Ñoâng.
Ñaát coù boán phöông: Ñoâng, Taây, Nam, Baéc.
Ngöôøi coù boán ñöùc: Caàn, Kieäm, Lieâm, Chính.
Thieáu moät muøa, thì khoâng thaønh trôøi.
Thieáu moät phöông, thì khoâng thaønh ñaát.
Thieáu moät ñöùc, thì khoâng thaønh ngöôøi.
6/
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Nhöõng chuyeän keå veà taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 7
LỜI GIỚI THIỆU
Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị
Màu quê hương bền bỉ đậm đà
Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút...
Tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam; học tập và
làm theo Người chính là phát huy những giá trị to lớn ấy để mỗi
người và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, góp phần xây dựng đất
nước ta “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”,
vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14 tháng
5 năm 2011 của Bộ Chính trị đặt ra, yêu cầu nâng cao nhận
thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân; tự giác
tu dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ
nghĩa cá nhân; làm cho việc học tập tấm gương đạo đức Bác
Hồ trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu bền và là
trách nhiệm, tình cảm, lợi ích thiết thân của mỗi chúng ta.
8/
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Để góp phần nhỏ vào công việc to lớn đó, kỷ niệm 122 năm
Ngày sinh Bác Hồ kính yêu và biểu dương tập thể, cá nhân thực
hiện tốt học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của
Thành phố năm 2012, Ban Tuyên giáo Thành ủy đã sưu tầm,
biên tập, phát hành cuốn “Những chuyện kể về tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh” tập 1.
Năm nay, nhân kỷ niệm 123 năm Ngày sinh của Bác
(19-5-1890 - 19-5-2013), Ban Tuyên giáo Thành ủy tiếp tục
sưu tầm, biên tập và phát hành tập sách “Những chuyện kể
về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tập 2, nhằm cung cấp
thêm tư liệu giúp tìm hiểu về Bác và về những chiến sĩ cách mạng,
về cán bộ, đảng viên, nhân dân thành phố đã noi gương làm theo
Người.
Xin trân trọng giới thiệu tập 2, mong rằng tập sách sẽ mang
đến nhiều điều hữu ích cho các đồng chí và các bạn, nhất là triển
khai chuyên đề: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu
cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán
bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” trong việc đẩy mạnh nghiên cứu,
kể chuyện học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh tại đơn vị.
Chúng tôi sẽ tiếp tục sưu tầm, biên soạn các tập tiếp theo
về các tập thể, cá nhân thực hiện tốt học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh. Mong nhận được sự góp ý của các
đồng chí và các bạn.
BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 9
Phaàn I
TAÁM GÖÔNG ÑAÏO ÑÖÙC
HOÀ CHÍ MINH
10 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 11
Caùch maïng laø söï nghieäp
cuûa quaàn chuùng
Từ những ngày đầu hoạt động, Bác đã dày công dạy
cho cán bộ nhận thức được sâu sắc rằng: Cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng. Vì thế cho nên, khi ở Liên Xô về
Trung Quốc, cuối năm 1924, Bác đã tìm mọi cách liên lạc,
đưa thanh niên ta sang Quảng Châu mở lớp đào tạo những
hạt giống cho cách mạng. Trong số những người học trò
đầu tiên của Bác lúc bấy giờ có đồng chí Trần Phú, sau này
trở thành Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta. Thời kỳ Bác
đi công tác Côn Minh - Hồ Khẩu, thời gian rất ngắn, công
việc lại nhiều, nhưng tối đến Bác vẫn triệu tập anh em đến
giảng giải về công tác cách mạng, về nhiệm vụ của người
đảng viên.
Khi về Pác Bó, có điều kiện hơn ở ngoài nước, nhiều
lớp huấn luyện chính trị và quân sự được Bác liên tiếp mở
12 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
ra thu hút rất nhiều cán bộ ta. Mỗi lớp như thế thường được
mở trong tuần hay mười hôm. Bác đào tạo, huấn luyện anh
em rồi trả họ về cơ sở, rèn luyện họ trong thực tiễn cách
mạng.
Đối với Bác, một hạt giống tốt không thể tự nó lớn
lên và chết dần mà phải làm cho nó nảy nở ra trăm ngàn hạt
giống khác. Lớp học lúc bấy giờ cũng rất đơn giản, không
bàn không ghế. Mấy anh em ngồi chung quanh đống lửa vừa
được sưởi ấm vừa được nghe Bác nói chuyện. Những câu
chuyện Bác nói thường là những câu chuyện thực trong đời
sống hàng ngày, hay trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b)
Liên Xô…
Một lần, có một số anh em bàn riêng với nhau chuẩn
bị giết tên tổng đoàn - (tên này rất ác, sau hắn giết anh Kim
Đồng) - Trong một buổi huấn luyện, Bác đem đọc cho mọi
người nghe đoạn nói về tả khuynh và ám sát cá nhân trong
cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô. Đọc xong Bác giải
thích:
- Ám sát cá nhân không phải là đường lối cách mạng
chân chính. Nhất là khi ta chưa nắm được chính quyền, chủ
trương ám sát cá nhân là một điều hết sức sai lầm. Thường
đấy là những cái cớ để bọn đế quốc tìm cách tăng cường đàn
áp cách mạng. Mục tiêu của ta là tiêu diệt bọn đế quốc, bọn
phong kiến thống trị chứ không phải giết một thằng là xong.
Hôm nay chúng ta giết thằng này, ngày mai chúng lại đưa
thằng khác lên. Chủ trương đúng đắn nhất của những người
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 13
cách mạng chân chính là biết cách tổ chức quần chúng lại
thành một khối thống nhất, vững chắc, đấu tranh tiêu diệt
cả chế độ của chúng.
Mấy anh em ngồi nhìn nhau, không hiểu làm sao Bác
lại biết được ý của họ. Nhưng cũng từ đó, anh em nhận thức
thêm được một vấn đề mà từ trước còn mờ mịt, còn nhầm
lẫn đúng sai. Cứ qua thực tế như vậy Bác đã đem ánh sáng
của chủ nghĩa Mác - Lênin rọi vào trí óc non nớt và thơ ngây
của chúng tôi, giúp chúng tôi đi những bước vững chắc trong
công tác cách mạng.
Lúc bấy giờ, Hội nghị Trung ương lần thứ tám chưa
họp, nhưng Bác đã lập ra những hội cứu quốc: Nông dân
cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc. Bác giải thích:
- Chúng ta muốn có một đội võ trang mạnh, trước hết
phải có một đội quân tuyên truyền mạnh, đội quân chính
trị vững.
Bác lấy một đoạn trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b)
Liên Xô nói cho chúng tôi nghe. Khi Cách mạng tháng Hai
lật đổ Nga hoàng, bọn Kerenxki nắm chính quyền, Lênin
chủ trương phải đi giải thích cho quần chúng rõ. Lênin nhấn
mạnh: Giải thích và giải thích. Muốn giải thích phải có đội
quân chính trị. Nói xong Bác kết luận:
- Ở nước ta hiện nay, muốn đánh Pháp, đuổi Nhật thì
ai là người vác súng, ai là người tự giác, tự nguyện đứng dậy
làm cách mạng. Đó là quảng đại quần chúng. Cho nên ta
14 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
phải tuyên truyền vận động quần chúng. Có như vậy cách
mạng mới thắng được.
Bác đề nghị chúng tôi làm thế nào giáo dục quần
chúng để trong một thời gian ngắn ta có được một phong
trào chống Pháp đuổi Nhật như ngọn thủy triều dâng lên ở
các địa phương.
Trong công tác cũng như trong khi giảng dạy ở các lớp
huấn luyện, Bác chú trọng đặc biệt đến cách tuyên truyền
vận động quần chúng. Bác thường nói:
- Chúng ta ở rất bí mật. Nhưng đó là bí mật với tụi
tổng đoàn, với bọn mật thám, bọn Tây, bọn thống trị chứ
không phải bí mật với nhân dân.
Bác còn yêu cầu lấy quần chúng làm bình phong bảo
vệ và che chở cho cách mạng. Muốn được như thế, cán bộ
không được làm điều gì trái với ý quần chúng, trái với phong
tục tập quán địa phương. Có những phong tục tốt, cần giữ
lại. Cũng có nhiều phong tục tập quán không tốt, cần phải
thay đổi. Nhưng không phải tự ý cán bộ thay đổi ngay một
lúc mà phải vận động từ từ để quần chúng giác ngộ và tự cải
cách lấy.
Nguồn “Những truyện kể về tinh thần đoàn kết của Bác Hồ”,
NXB Lao động, Phan Tuyết - Bích Diệp (sưu tầm - tuyển chọn).
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 15
Coøn daân, coøn nöôùc
Năm 1945, sau khi nhân dân ta giành được độc lập,
theo kế hoạch giải giáp quân đội Nhật đã đầu hàng, quân
đội Tưởng lốc nhốc vào nước ta, đứng chân ở nhiều tỉnh lỵ,
từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc.
Bác Hồ và Chính phủ đã chỉ thị phải hợp tác thành
thật với họ, tránh khiêu khích để sinh ra lộn xộn, xung đột.
Tuy chỉ thị đã ban hành, nhưng Bác “sợ” vẫn chưa chắc
chắn, nên Bác đã triệu tập một số chủ tịch tỉnh, thị xã Phú
Thọ, Vĩnh Yên, Phú Yên, Bắc Giang, Sơn Tây, Lạng Sơn, cả
Hà Nội vào Bắc Bộ phủ.
Các đại biểu được dịp báo cáo với Bác những hành
vi ngang ngược, cướp của, tống tiền, dung túng cho bọn
Việt Cách, Việt Quốc làm bậy, âm mưu lật đổ chính quyền,
chiếm đóng một số nơi.
16 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Bác nói:
- Họ nhân danh Đồng Minh vào nước ta tước vũ khí
quân đội Nhật. Nếu ta để xảy ra chuyện gì đó, họ sẽ lấy cớ
làm khó dễ cho ta…
Đại biểu Vĩnh Yên thưa:
- Thưa Bác, ta thì muốn hữu nghị hợp tác nhưng họ
lại muốn cướp đất của ta…
Không thấy ai phát biểu nữa, Bác nói:
- Các chú có thấy dân ta theo họ, hợp tác với họ
không? Nếu dân ta không đứng về phía họ - thì ta dù có
tạm thời không giữ được một ít nơi, nhưng vẫn không mất
nước. Vì còn Dân thì còn Nước. Dân là gốc của Nước. Các
chú phải làm sao để Dân tin tưởng vào Chính phủ, nghe lời
Chính phủ, tuân theo chỉ thị của Trung ương. Chú nào làm
sai, phải chịu kỷ luật… Chú nào có ý kiến gì không? Bác
dừng nói, chờ. Không thấy ai “có ý kiến” nữa, Bác “tuyên
bố”: Giải tán hội nghị.
Nguồn: “Những truyện kể về tinh thần đoàn kết của Bác
Hồ”, NXB Lao động, Phan Tuyết - Bích Diệp (sưu tầm - tuyển chọn)
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 17
ÖÙng xöû cuûa Chuû tòch Hoà Chí Minh
vôùi Baûo Ñaïi
Thái độ ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với
Vĩnh Thụy (Bảo Đại) là một thí dụ điển hình cho tấm lòng
khoan dung độ lượng, sức thuyết phục cảm hóa của Người
đối với vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến cũ đã bị lật
đổ. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Vĩnh Thụy đã ra tới Hà Nội
theo lời mời của Người: Ngay lúc 15 giờ, Người đã đến chỗ
ông ta để thăm hỏi. Sáng ngày 5 tháng 9 năm 1945, Người
đã tiếp ông ta tại Bắc Bộ phủ. Ngày 10 tháng 9 năm 1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23 cử ông Vĩnh Thụy
làm Cố vấn Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa. Từ chỗ lo lắng cho số phận của mình không biết
có giống vua Louis XVI ở Pháp hay không, Vĩnh Thụy đã
mang ơn sâu nặng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông ta đã
viết thư về cho mẹ là bà Từ Cung ở Huế với những dòng xúc
18 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
động: “Cụ Hồ tốt lắm! Con ra đây được Cụ thương lắm! Cụ
thương con như con. Ả (tức là mẹ - TG) cứ yên tâm, không
phải lo chi cho con cả”. Vĩnh Thụy sinh năm 1911, kém Chủ
tịch Hồ Chí Minh 21 tuổi; bức thư trên là do ông ta viết, chứ
không phải do một người thư ký nào thảo hộ.
Về sau, do những hạn chế giai cấp mà ông không thể
vượt qua và sự lôi kéo của thực dân đế quốc, Vĩnh Thụy lại
trở về con đường cũ. Ngày 8 tháng 12 năm 1947, Hồ Chí
Minh vẫn điềm tĩnh trả lời phỏng vấn của các nhà báo Việt
Nam và nước ngoài: “Chính phủ và nhân dân ta rất mong
Cố vấn Vĩnh Thụy không có những hành động trái ngược
với những lời Cố vấn đã thề trước Tổ quốc và trước đồng
bào, trái với nguyện vọng của dân tộc. Dù sao vận mệnh của
dân tộc sẽ không vì một người hoặc một nhóm người mà
thay đổi”. Thái độ ứng xử ấy như một lời khuyên, một lời
cảnh tỉnh đối với Vĩnh Thụy, mặt khác lại khẳng định con
đường tất thắng của dân tộc.
Nguồn: “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” –
GS. Đặng Xuân Kỳ, Nxb Lao động, 2013, tr.228.
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 19
Baùc Hoà laøm ngoaïi giao
Trong lúc ở trong nước, nhân dân ta đang gấp rút
chuẩn bị tiến lên tổng khởi nghĩa, ở Côn Minh, Bác mở
“mặt trận ngoại giao'', trước hết với Mỹ. Qua phân tích, Bác
thấy rằng, lúc này đang cần phải tranh thủ Mỹ. Lợi dụng
kẻ thù này để đánh kẻ thù kia là một trong những kế sách
của Bác. Vì vậy, Bác quyết định tiếp tướng Claiơ Sênôn
(C. Chennault), Tư lệnh trưởng Bộ Tư lệnh không quân
14 của Mỹ ở Trung Quốc. Làm việc này, Bác muốn tranh
thủ những người có thể tranh thủ. Quan điểm ngoại giao
của Bác bao giờ cũng hết sức rõ ràng. Để chuẩn bị cho cuộc
tiếp tướng Sênôn, Bác gặp Sáclơ Phen (Charles Fell), người
phụ tá của Sênôn. Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Sáclơ Phen và
Bác được tiến hành vào ngày 17-3-1945. Sau đó, ngày 20-31945 Bác và Sáclơ Phen gặp nhau lần thứ hai tại hiệu cà phê
của gia đình anh Tống Minh Phương ở phố Chinpí, Côn
20 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Minh. Trước khi gặp Sênôn, gia đình anh Phương mua sắm
cho Bác chiếc áo lông và đôi giày mới. Cuộc gặp gỡ giữa
Bác và tướng Sênôn diễn ra ngày 23-3-1945, tại hành dinh
của Sênôn. Sênôn mặc quân phục đại lễ với tất cả các loại
huân chương mà ông ta được thưởng. Khi gặp Bác, Sênôn
lúng túng vì không có phiên dịch. Bác bảo không cần, rồi
nói chuyện với Sênôn bằng tiếng Anh rất lưu loát, làm ông
ta hết sức ngạc nhiên. Viên tướng Mỹ cảm ơn Bác và Việt
Minh đã cứu thoát, chăm sóc hết sức tử tế viên phi công.
Bác nói đây là bổn phận của những người Việt Nam chống
phát xít. Họ có thể làm tất cả những gì trong phạm vi khả
năng làm được để giúp Đồng Minh. Bác hỏi Sênôn rằng, phi
công Sao hiện giờ ở đâu? Sênôn trả lời: ''Sao đã lên đường về
Mỹ. Trước khi lên máy bay, Sao gửi lời cảm ơn Ngài'', Sênôn
trao cho Bác thuốc chữa bệnh và tiền Pháp tặng người Việt
Nam vì đã cứu sống phi công của họ. Bác nhận thuốc, hoàn
lại tiền. Tướng Sênôn, một con người có bộ mặt rất nghiêm
khắc, hiếm thấy nụ cười trên môi ông ta. Vậy mà khi tiếp
Bác, ông ta luôn luôn vui vẻ.
Vài ngày sau, viên tướng Mỹ lại xin gặp Bác. Ông ta
sai Sáclơ Phen đi ô tô đến tận nhà anh Phương để đón Bác.
Tới nơi, họ mở cửa lớn đón Bác vào. Tưởng phía Mỹ bàn
với Bác chuyện gì, hóa ra họ đề nghị Bác làm việc cho họ.
Nói đúng tim đen là họ mua chuộc Bác, vì lúc ấy có lẽ họ
chưa biết Bác là Hồ Chí Minh. Sau này, Bác kể lại, Bác đã
trả lời bọn chúng, đại ý là: Chúng tôi không phải người đi
làm thuê. Chúng tôi là người cách mạng. Chúng tôi đánh
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 21
Nhật, Đồng Minh cũng đánh Nhật. Chúng tôi giúp Đồng
Minh thì Đồng Minh phải giúp chúng tôi. Chúng ta bình
đẳng với nhau. Còn nhiệm vụ cách mạng, chúng tôi cứ làm.
Trước những lời lẽ cứng rắn của Bác, họ không dám giở trò
mua chuộc nữa, chỉ đề nghị Bác giúp đỡ cho một trạm cấp
cứu các phi công Đồng Minh ở Đông Dương khi bị nạn.
Bác đồng ý. Tướng Sênôn giao cho Sáclơ Phen thực hiện
kế hoạch này. Vấn đề chỉ có thế, vậy mà có kẻ xấu đồn rằng
Bác bị tình báo Mỹ lợi dụng. Người Mỹ ở Côn Minh mở tiệc
chiêu đãi Bác. Trong bữa tiệc, Bác kể tiểu sử của Oasinhtơn
(Washington) và Linhcôn (Lincoln), những người có công
giải phóng nước Mỹ và giải phóng người nô lệ da đen ở Mỹ.
Họ không ngờ rằng, một vị đại diện của Việt Minh lại am
hiểu sâu sắc những chính khách của nước Mỹ đến như vậy.
Dự tiệc xong, trở về nhà, Bác triệu tập một số bà con Việt
kiều có tâm huyết với nước, hiện đang ở Côn Minh lại, nói
rõ cho bà con biết vì sao ta lại tạm thời bắt tay với Mỹ? Vấn
đề là ở chỗ thu hút lực lượng chống Nhật - Pháp. Bác hỏi ý
kiến bà con: Phía Mỹ mời tiệc ta, ta có nên đáp lại không?
Bà con đồng thanh nhất trí đáp lại phía Mỹ bằng bữa cơm
Việt Nam. Anh Phương và chị Hoa xung phong đứng ra tổ
chức bữa tiệc. Hôm sau, mọi người bắt tay vào việc chuẩn bị
làm tiệc. Tiệc được tổ chức ngay tại nhà anh Phương. Nhờ
những bàn tay khéo léo của các chị, bữa tiệc được tổ chức
khá chu đáo. Nhìn các món ăn, Bác bằng lòng lắm, nói vui:
''Cơm ta chẳng kém gì cơm tây''. Năm phái viên cao cấp của
Mỹ đã đến dự tiệc. Về phía ta, ngoài Bác ra, có khoảng dăm
22 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
người, trong đó có anh Phương, chị Hoa. Bác đón tiếp phái
đoàn Mỹ hết sức nồng hậu. Do tài ngoại giao khéo léo của
Bác, những người Mỹ dự tiệc đều tuyên bố sẵn sàng ủng hộ
Việt Minh để đánh Nhật. Tiệc tan, Bác tiễn họ ra tận ô tô,
rồi quay trở vào nói với anh em: “Bữa tiệc đã thành công, đạt
được mục đích của ta”.
Nguồn: Hồi ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt
trong cuốn “Đường Bác Hồ chúng ta đi” ,
Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 23
Söï kính phuïc
cuûa nhöõng ngöôøi ñoái ñaàu
Hồ Chí Minh lãnh đạo cả dân tộc đánh bại cả ba đế
quốc to cùng với mọi thế lực phản động trong nước, để dân
tộc được độc lập, đất nước được thống nhất, con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội được rộng mở. Nhưng cũng giống như
C. Mác ở thế kỷ XIX, người không có kẻ thù riêng nào. Tất
cả các đối thủ của Người đều phải kính nể, cảm phục một
con người mà họ không thể khuất phục, không thể đánh bại,
và cuối cùng họ đành chấp nhận là người thua cuộc.
Giăng Xanhtơny ( Jean Sainteny), đại diện cho Chính
phủ Pháp đảm nhiệm việc đàm phán với Chính phủ Hồ Chí
Minh trong thời gian 1945 – 1946, đã tìm mọi cách để đè
bẹp lực lượng cách mạng Việt Nam, nhằm tái lập ách thống
trị của chủ nghĩa thực dân Pháp trên đất nước này. Khi
Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông cũng là người thay mặt
24 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Chính phủ Pháp sang viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà
Nội. Con người ấy đã viết về Hồ Chí Minh bằng những lời
rất trân trọng trong tập hồi ký Câu chuyện về một nền hòa
bình bị bỏ lỡ: Hồ Chí Minh – đó là một nhân vật đang phải
đối đầu và tôi là người đối thoại trong suốt 16 tháng. Do
hiểu biết rộng, thông minh, hoạt động rất tích cực, tuyệt đối
không nghĩ tới chuyện riêng tư, ông đã được nhân dân kính
yêu, tin tưởng không ai sánh kịp. Rất tiếc là hồi đó Chính
phủ Pháp đã đánh giá thấp nhân vật này và đã không hiểu
được giá trị cũng như uy lực của ông. Đến cuối đời, Giăng
Xanhtơny đã phải thú nhận Hồ Chí Minh là người đã đánh
đắm cả chế độ thực dân Pháp, nhưng lại vẫn là bạn của nước
Pháp.
Trung tá Ônây, thuyền trưởng thông báo hạm
Đuymông Đuyếcvin, đã chỉ huy con tàu chở Chủ tịch Hồ
Chí Minh từ quân cảng Tulông nước Pháp về Việt Nam hồi
tháng 9 năm 1946. Trong suốt chuyến đi 45 ngày, được tiếp
xúc với Hồ Chí Minh, Ônây đã hoàn toàn bị thuyết phục và
hoàn toàn ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam. Tháng
11 năm 1946, ông đã từ chối không nhận chức Tư lệnh Hải
quân Pháp ở Hải Phòng và xin trở về Pháp, kiên quyết không
tham chiến ở Việt Nam. Sau này, khi đã trở thành Thủy sư
Đô đốc, ông đã viết trong hồi ký của mình, ca ngợi Hồ Chí
Minh là một vị thủ lĩnh có phong cách rất độc đáo, rất thông
minh, bình tĩnh, chưa hề thấy ở bất kỳ ai.
Tướng P. Valuy với vai trò chính khách Pháp đã nhiều
lần tiếp xúc với Hồ Chí Minh trong năm 1946, thấy rõ thái
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 25
độ “hết sức nhã nhặn, hết sức lịch sự và hết sức quyến rũ”
của Người. Được thuyết phục bởi phong cách ứng xử của
Người, ông đã trở thành người đối thoại rất tâm đắc với Hồ
Chí Minh và giữa hai người đã có một “tình hữu nghị keo
sơn”.
Thiếu úy Sáclơ Phen và thiếu tá Ácsimet Patty là hai
sĩ quan của cơ quan tình báo Mỹ OSS đã có dịp gần gũi,
tiếp xúc với Hồ Chí Minh thời kỳ 1944 – 1945. Trong thời
gian ngắn một năm, Hồ Chí Minh đã để lại cho họ ấn tượng
không thể nào quên. Điều đó đã quyết định họ khuyến nghị
Chính phủ Mỹ đặt quan hệ với Hồ Chí Minh, đáng tiếc
Chính phủ Mỹ đã bỏ qua. Nhưng mối quan hệ giữa Hồ Chí
Minh với những người Mỹ này đã trở thành tình bạn ít ai
ngờ tới.
Ngày 30 tháng 9 năm 1945, khi rời Việt Nam , A. Patty
nhớ mãi lời dặn của Hồ Chí Minh: “Bạn nhớ trở lại Việt Nam.
Bạn bao giờ cũng được hoan nghênh”. Tác giả của cuốn Tại
sao Việt Nam? đã trở lại Việt Nam vào những năm 1985, 1990
với tất cả tấm lòng trân trọng và cảm phục đối với Hồ Chí
Minh, một con người hiếm có trên thế gian này.
Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với không biết bao nhiêu
người, về quan điểm và đường lối chính trị là rất khác nhau
hoặc hoàn toàn đối lập nhau; là bạn có điều kiện hoặc hai
bên đứng về hai trận tuyến rõ rệt. Nhưng phong cách ứng xử
Hồ Chí Minh đã có sức thuyết phục cảm hóa to lớn để giành
được sự đồng tình hoặc chí ít cũng là những nhân nhượng
26 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
cần thiết. Thủ tướng Ấn Độ, P. J. Nêru đã thể hiện những
tình cảm hết sức chân thành và sâu sắc: “…Thật là một điều
hân hạnh được gặp con người vĩ đại và có sức hút mãnh liệt
đối với chúng ta. Mặc dầu trong thế giới ngày nay còn có
khác biệt và xung đột, nhưng được gặp Bác Hồ, chúng ta
thật sung sướng được thấy lòng tốt của con người… Tình
bạn, lòng nhân ái sẽ vượt qua tất cả”.
Nguồn: “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” –
GS. Đặng Xuân Kỳ, Nxb Lao động, 2013, tr.230.
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 27
Baùc Hoà ñoái xöû vôùi tuø binh
Trong năm 1944, biên giới Việt - Trung có nhiều
diễn biến phức tạp khi những người Đồng Minh lấy danh
nghĩa chống phát xít Nhật cứ ngấp nghé muốn vào nước ta.
Họ đã cho người đến Bình Mãng giáp Sóc Trăng thuộc Hà
Quảng để quan sát tình hình. Khi các đồng chí địa phương
báo cáo lên Bác chuyện này, Bác có nhận xét ngay: Họ muốn
vào Việt Nam để nắm tình hình Nhật, nắm tình hình ta. Tóm
lại là họ hoạt động tình báo, cho nên phải cảnh giác với họ.
Vấn đề là phải từ chối khéo, nhưng lại không mất lòng họ.
Bác cử một số cán bộ đến Bình Mãng để tiếp họ. Trong buổi
tiếp, quả nhiên họ yêu cầu ta cho họ đặt điện đài trên đất
Việt Nam. Các đồng chí ta bày binh bố trận khéo đến nỗi đi
đến đâu cũng thấy lực lượng hùng mạnh của Việt Minh và
nói rằng lính Nhật đang còn đóng ở biên thùy với một lực
lượng mạnh, nếu muốn vào Việt Nam phải trang bị cho Việt
Minh một số vũ khí lớn, có thế mới bảo vệ được họ. Nghe ta
nói vậy, họ “co vòi'' không vào nữa.
28 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Đầu năm 1945, Bác lại sang Trung Quốc, với tư cách
đại diện Việt Minh liên lạc với Đồng Minh lúc ấy đang có
một bộ phận đóng ở Vân Nam. Cùng đi với Bác chuyến này
có anh Phùng Thế Tài làm nhiệm vụ bảo vệ, đưa đường và
anh Đinh Đại Toàn (tức Đại Minh) làm nhiệm vụ quản vụ.
Ngoài ra, còn có viên phi công Mỹ, trung úy Uyliam Sao
(Willliam Shaw), người được Việt Minh cứu thoát trong
cuộc nhảy dù xuống Cao Bằng, do sự trục trặc của máy bay.
Nhân đây, tôi xin nói rõ vài nét về viên phi công và chiếc
máy bay: Vào cuối năm 1944, có một chiếc máy bay của lực
lượng không quân Mỹ đóng tại Trung Quốc, vượt qua biên
giới Trung - Việt, chao lượn trên vùng trời Nước Hai, tỉnh
Cao Bằng. Đang bay, bỗng có tiếng động cơ gầm rú rất nặng,
có lẽ bị trúng đạn pháo của Nhật. Trong giây lát, chiếc máy
bay rơi. Viên phi công, trung úy Sao nhảy thoát ra ngoài.
Đồng bào địa phương nhìn rõ máy bay rơi và viên phi công
nhảy dù. Họ phân công nhau đi tìm phi công. Cuối cùng, họ
đã bắt gặp viên phi công đó. Nhìn dân quân du kích, viên phi
công sợ sệt, liền rút tiền, nhẫn vàng ra để dâng. Mọi người
lắc đầu, ra hiệu cho anh ta cất vào túi. Họ dẫn viên phi công
về trụ sở tòa soạn báo Việt Nam độc lập, đóng trong thành
nhà Mạc cũ ở vùng rừng Nước Hai. Lúc ấy, anh Phạm Văn
Đồng phụ trách cơ quan báo, giao cho tổ của anh Cao Hồng
Lĩnh, đưa viên phi công này lên chỗ Bác ở vùng giáp biên
giới Việt - Trung. Trong những ngày giải viên phi công đi,
anh em chăm sóc anh ta hết sức chu đáo, cho ăn xôi thịt,
trong lúc anh em phải ăn cơm nắm chấm muối vừng. Viên
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 29
phi công từ chỗ sợ sệt đến chỗ quy phục, thân mật với anh
em. Sao đã làm thơ tặng anh em. Khi đến nơi, anh em đưa
Sao đến gặp Bác. Anh Lĩnh có lần kể lại với tôi rằng, lúc ấy
anh thấy Bác như đang sửa soạn đi đâu vì vai Bác đeo xắc cốt,
tay cầm gậy chống. Anh đưa Sao đến trước mặt Bác. Nhìn
Sao, Bác tươi cười, bắt tay anh ta, kéo anh ta ngồi xuống cạnh
mình và nói chuyện hết sức thân mật:
- Quê anh ở bang nào thuộc nước Mỹ?
Nghe Bác hỏi bằng tiếng Anh rất chuẩn, Sao ngạc
nhiên, nở nụ cười rạng rỡ, đáp:
- Thưa ông, tôi ở Tếchdát.
- Anh đã có vợ chưa?
- Thưa ông, tôi đã có vợ.
- Anh có muốn về Mỹ gặp lại vợ không?
- Thưa ông, rất muốn.
- Chúng tôi sẽ trao trả ông cho lực lượng không quân
Mỹ tại Trung Quốc.
- Thưa ông, nếu được như vậy quả là niềm vinh hạnh
đối với tôi.
Rồi Bác bảo anh em bố trí nơi ăn, chốn ở chu đáo cho
anh ta. Khi về chỗ nghỉ, Sao hết lời ca ngợi “ông cụ'', rằng:
“Ông ấy nói tiếng Anh nghe rõ quá, lại đối xử với tôi thân
mật như cha tôi vậy''. Sau khi gặp Bác, tinh thần của Sao phấn
chấn hẳn lên. Mấy hôm sau, Bác bảo các cô gái địa phương
30 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
kiếm chỉ thêu chữ “Chúc mừng'' (Greeting) trên mảnh lụa
trắng tặng Sao. Nhận tặng phẩm, Sao xúc động đến rơi lệ.
Anh ta không ngờ tại nơi núi rừng heo hút này lại có người
đối xử với anh ta văn minh như thế.
Nói về quân Pháp, sau khi chiếc máy bay rơi, chúng
cho quân đến vây khu rừng, cất tháo chiếc máy bay và truy
nã người phi công. Nhật thấy vậy, cũng muốn giành chiếc
máy bay đó, đồng thời cảnh cáo Pháp vì đã để phi công trốn
thoát, giao hẹn nếu không tìm được, Pháp sẽ phải trả giá đắt.
May làm sao, viên phi công đã được cán bộ Việt Minh bảo
vệ đưa ra khỏi khu nguy hiểm, giấu trong hang đá, chăm sóc
hết sức tử tế, rồi tìm cách đưa sang biên giới.
Bác đưa viên phi công này đi là để bàn giao cho Bộ
Tư lệnh không quân Mỹ tại Trung Quốc lúc ấy đóng ở Côn
Minh. Hành lý cùng thực phẩm mang theo là chiếc chăn
chiên cũ, mỗi người một bộ quần áo để thay, một ống nứa
đựng thịt với muối, ớt để “ăn dè'', theo kiểu “lèng'' đi đường
xa của người Tày, một chiếc ca tráng men. Để phòng xa, Bác
còn mang theo một số tiền quan kim, tiền của chính quyền
Tưởng Giới Thạch. Đoàn lữ khách chia làm ba tốp, tốp một
đi trước dò đường, tốp hai dẫn người phi công và tốp ba đi
sau đề phòng bị tập kích.
Hôm Bác lên đường, núi non Cao Bằng đẹp hẳn lên
vì có ánh nắng ban mai chiếu vào. Anh Đinh Đại Toàn nói
rằng, mùa rét mà có nắng sớm kể cũng hiếm thấy. Thường
thì ngày đi đêm nghỉ. Nhưng cũng nhiều hôm, ngày nghỉ
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 31
đêm đi, vì quân Nhật và quân Pháp dự đoán viên phi công
kia có thể đi về phía biên giới Việt - Trung, cho nên chúng
tăng cường lùng sục tìm kiếm. Để tránh quân Nhật và quân
Pháp đang bủa vây, nhiều khi phải đi vòng vèo. Trong cuộc
hành trình nên thơ và bi tráng ấy, trung úy Sao được ăn xôi
thịt gà, trong khi đó, Bác và anh em phải ăn cơm nắm với
thịt kho mặn. Trung úy Sao được đi ngựa, còn Bác và anh
em phải đi bộ. Khi ngủ, Sao được bảo vệ từ xa. Khi vượt qua
biên giới Việt - Trung, có người của Tưởng Giới Thạch dẫn
đường. Gặp những người dẫn đường khó tính, hoặc tuổi cao,
Bác động viên, an ủi họ, nói chuyện hết sức thân tình với họ,
biếu họ ít tiền gọi là trả chút công lao. Việc làm có tính chất
nghĩa cử của Bác làm họ xúc động. Còn đối với anh em, để
giảm bớt nỗi nhọc nhằn trên đường đi, Bác mang chuyện
lịch sử nước này ra kể, đọc thơ ''Chinh phụ ngâm'' để anh em
thưởng thức. Bác kể chuyện Hồng quân Trung Quốc trong
cuộc vạn lý trường chinh từ Hoa Nam lên Hoa Bắc, gian
khổ là thế, vậy mà các chiến sĩ vẫn tranh thủ học văn hóa.
Người đi trước viết chữ đeo lưng để người đi sau học. Khi
hành quân tới Hoa Bắc, số người hy sinh tới quá nửa. Nhưng
những người còn lại đã thoát nạn mù chữ. Họ viết thư về nhà
báo cho gia đình mình đã đi đến nơi. Những câu chuyện Bác
kể dọc đường đã động viên anh em rất nhiều.
Vì đi từng tốp riêng lẻ, khi sang tới bên kia biên giới,
tốp đi của Bác và tốp đi của viên phi công mới gặp nhau. Sau
5 ngày cùng đi trên địa phận Trung Hoa, Bác chia tay Sao, vì
nhà chức trách Trung Hoa nhận đưa viên phi công đến Côn
32 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Minh để bàn giao cho phía Mỹ. Bác trở lại đi Vân Nam trong
khi Sao đi đường khác bằng ngựa, rồi bằng máy bay thẳng
tới Côn Minh.
Nguồn: Hồi ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt trong cuốn
“Đường Bác Hồ chúng ta đi”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 33
Chuyeän veà nhöõng böõa côm
cuûa Baùc Hoà
Phong cách sinh hoạt giản dị, thanh cao, ghét thói
xa hoa, lãng phí của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân
Việt Nam và nhân dân thế giới ngưỡng mộ. Một tác giả nước
ngoài đã viết rằng: Cuộc sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí
Minh và sự gần gũi với nhân dân là đặc trưng cho tình yêu
đối với đất nước của một Con Người đã trở thành huyền
thoại ngay trong cả cuộc sống đời thường của mình. Một
trong những yếu tố góp phần làm nên huyền thoại ấy bắt đầu
từ điều vô cùng bình thường nhất, đó là những bữa ăn của vị
Chủ tịch nước.
Ngày mới giành chính quyền năm 1945, Bác làm việc
tại Bắc Bộ Phủ trong căn phòng nhỏ trên gác hai. Bác được
cấp mỗi tháng 200đ cho việc ăn uống. Tới giờ ăn, Bác đến
ăn tại bếp tập thể cùng anh em. Bữa ăn của Bác đạm bạc,
thường chỉ có một miếng cá nhỏ, một bát canh, vài quả cà,
mấy cọng dưa, dăm lát ớt và miệng bát cơm. Ngày 10 tháng
34 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
4 năm 1946, giữa lúc đất nước bộn bề công việc, Bác về thăm
Ninh Bình để dàn xếp vấn đề đối nội, đặc biệt là tôn giáo.
Khoảng 8 giờ, khi xe Bác đến thị xã, nhân dân ùa đến, vẫy
cờ, hô khẩu hiệu đón Bác. Anh em trong Ủy ban khẩn khoản
mời Bác ở lại nghỉ cho đỡ mệt và ăn tối, nhưng Bác nói:
“Hàng ngàn đồng bào chờ Bác ngoài kia, Bác không thể nghỉ
ở đây để ăn cơm vì 9 giờ tối Bác đã có việc ở Chủ tịch phủ.
Bây giờ các chú giúp Bác: một chú ra tập hợp đồng bào vào
một ngã tư rộng gần đây để Bác ra nói chuyện với đồng bào
mươi phút; một chú ra cửa hàng bánh mua cho Bác một cặp
bánh giò. Còn các chú đi với Bác thì tranh thủ ăn cơm trước.
Nói chuyện xong, Bác về Hà Nội ngay cho kịp hẹn. Trong xe,
Bác sẽ ăn bánh vừa đỡ tốn kém, vừa tiết kiệm thời gian cho
Bác”. Sau đó Bác ra nói chuyện với đồng bào. Khá muộn, Bác
vẫy tay chào đồng bào rồi lên xe về Hà Nội. Xe đi được một
quãng, Bác mới bắt đầu dùng bữa ăn tối của mình.
Kháng chiến bùng nổ, Bác cùng các cơ quan Trung
ương và Chính phủ trở lại Việt Bắc. Những năm đầu, đời
sống kháng chiến vô cùng kham khổ, Bác vẫn ăn chung với
anh em, bát ăn chỉ là ống bương cưa ra, thức ăn chủ yếu là
măng, rau, cao cấp nhất là thịt chim, sóc săn bắn hoặc đánh
bẫy được đem kho mặn với muối để Bác ăn dần, thi thoảng
tìm được con gà bồi dưỡng riêng cho Bác thì Người nói lộc
bất khả tận hưởng, rồi đem chia đều cho mọi người. Món ăn
chủ lực của Bác và anh em vẫn là món thịt Việt Minh gồm:
1kg thịt + 1kg muối + nửa kg ớt xào lên cho vào ống, đi đến
đâu dùng cũng tiện. Khi tăng gia, chăn nuôi được nhiều, anh
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 35
em xin ý kiến, Bác đồng ý cho bỏ món thịt Việt Minh. Có
lần, đoàn công tác của Bác đi qua huyện Yên Sơn theo kế
hoạch ghé vào một cơ sở để ăn trưa. Nhưng khi đến nơi, thì
nghe có tiếng máy bay địch nên Bác bảo anh em đưa cơm ra
bãi cỏ ở bìa rừng ngồi ăn thuận tiện hơn. Hai đồng chí bảo vệ
vào xóm bưng cơm lại mượn thêm chiếc chiếu của gia đình
đồng bào ra ngồi. Lúc đặt mâm cơm xuống, Bác thấy có con
gà luộc, đĩa c...
NHÖÕNG CHUYEÄN KEÅ
VEÀ TAÁM GÖÔNG ÑAÏO ÑÖÙC
HOÀ CHÍ MINH
Taäp 2
2/
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Nhöõng chuyeän keå veà taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 3
THAØNH UÛY THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH
BAN TUYEÂN GIAÙO
NHÖÕNG CHUYEÄN KEÅ
VEÀ TAÁM GÖÔNG ÑAÏO ÑÖÙC
HOÀ CHÍ MINH
Taäp 2
Nhaø xuaát baûn Vaên hoùa - Vaên ngheä
TP. Hoà Chí Minh 2013
Trôøi coù boán muøa: Xuaân, Haï, Thu, Ñoâng.
Ñaát coù boán phöông: Ñoâng, Taây, Nam, Baéc.
Ngöôøi coù boán ñöùc: Caàn, Kieäm, Lieâm, Chính.
Thieáu moät muøa, thì khoâng thaønh trôøi.
Thieáu moät phöông, thì khoâng thaønh ñaát.
Thieáu moät ñöùc, thì khoâng thaønh ngöôøi.
6/
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Nhöõng chuyeän keå veà taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 7
LỜI GIỚI THIỆU
Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị
Màu quê hương bền bỉ đậm đà
Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
Ta bỗng lớn ở bên Người một chút...
Tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam; học tập và
làm theo Người chính là phát huy những giá trị to lớn ấy để mỗi
người và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, góp phần xây dựng đất
nước ta “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”,
vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14 tháng
5 năm 2011 của Bộ Chính trị đặt ra, yêu cầu nâng cao nhận
thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân; tự giác
tu dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ
nghĩa cá nhân; làm cho việc học tập tấm gương đạo đức Bác
Hồ trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu bền và là
trách nhiệm, tình cảm, lợi ích thiết thân của mỗi chúng ta.
8/
NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Để góp phần nhỏ vào công việc to lớn đó, kỷ niệm 122 năm
Ngày sinh Bác Hồ kính yêu và biểu dương tập thể, cá nhân thực
hiện tốt học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của
Thành phố năm 2012, Ban Tuyên giáo Thành ủy đã sưu tầm,
biên tập, phát hành cuốn “Những chuyện kể về tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh” tập 1.
Năm nay, nhân kỷ niệm 123 năm Ngày sinh của Bác
(19-5-1890 - 19-5-2013), Ban Tuyên giáo Thành ủy tiếp tục
sưu tầm, biên tập và phát hành tập sách “Những chuyện kể
về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tập 2, nhằm cung cấp
thêm tư liệu giúp tìm hiểu về Bác và về những chiến sĩ cách mạng,
về cán bộ, đảng viên, nhân dân thành phố đã noi gương làm theo
Người.
Xin trân trọng giới thiệu tập 2, mong rằng tập sách sẽ mang
đến nhiều điều hữu ích cho các đồng chí và các bạn, nhất là triển
khai chuyên đề: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu
cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán
bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” trong việc đẩy mạnh nghiên cứu,
kể chuyện học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh tại đơn vị.
Chúng tôi sẽ tiếp tục sưu tầm, biên soạn các tập tiếp theo
về các tập thể, cá nhân thực hiện tốt học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh. Mong nhận được sự góp ý của các
đồng chí và các bạn.
BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 9
Phaàn I
TAÁM GÖÔNG ÑAÏO ÑÖÙC
HOÀ CHÍ MINH
10 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 11
Caùch maïng laø söï nghieäp
cuûa quaàn chuùng
Từ những ngày đầu hoạt động, Bác đã dày công dạy
cho cán bộ nhận thức được sâu sắc rằng: Cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng. Vì thế cho nên, khi ở Liên Xô về
Trung Quốc, cuối năm 1924, Bác đã tìm mọi cách liên lạc,
đưa thanh niên ta sang Quảng Châu mở lớp đào tạo những
hạt giống cho cách mạng. Trong số những người học trò
đầu tiên của Bác lúc bấy giờ có đồng chí Trần Phú, sau này
trở thành Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta. Thời kỳ Bác
đi công tác Côn Minh - Hồ Khẩu, thời gian rất ngắn, công
việc lại nhiều, nhưng tối đến Bác vẫn triệu tập anh em đến
giảng giải về công tác cách mạng, về nhiệm vụ của người
đảng viên.
Khi về Pác Bó, có điều kiện hơn ở ngoài nước, nhiều
lớp huấn luyện chính trị và quân sự được Bác liên tiếp mở
12 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
ra thu hút rất nhiều cán bộ ta. Mỗi lớp như thế thường được
mở trong tuần hay mười hôm. Bác đào tạo, huấn luyện anh
em rồi trả họ về cơ sở, rèn luyện họ trong thực tiễn cách
mạng.
Đối với Bác, một hạt giống tốt không thể tự nó lớn
lên và chết dần mà phải làm cho nó nảy nở ra trăm ngàn hạt
giống khác. Lớp học lúc bấy giờ cũng rất đơn giản, không
bàn không ghế. Mấy anh em ngồi chung quanh đống lửa vừa
được sưởi ấm vừa được nghe Bác nói chuyện. Những câu
chuyện Bác nói thường là những câu chuyện thực trong đời
sống hàng ngày, hay trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b)
Liên Xô…
Một lần, có một số anh em bàn riêng với nhau chuẩn
bị giết tên tổng đoàn - (tên này rất ác, sau hắn giết anh Kim
Đồng) - Trong một buổi huấn luyện, Bác đem đọc cho mọi
người nghe đoạn nói về tả khuynh và ám sát cá nhân trong
cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô. Đọc xong Bác giải
thích:
- Ám sát cá nhân không phải là đường lối cách mạng
chân chính. Nhất là khi ta chưa nắm được chính quyền, chủ
trương ám sát cá nhân là một điều hết sức sai lầm. Thường
đấy là những cái cớ để bọn đế quốc tìm cách tăng cường đàn
áp cách mạng. Mục tiêu của ta là tiêu diệt bọn đế quốc, bọn
phong kiến thống trị chứ không phải giết một thằng là xong.
Hôm nay chúng ta giết thằng này, ngày mai chúng lại đưa
thằng khác lên. Chủ trương đúng đắn nhất của những người
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 13
cách mạng chân chính là biết cách tổ chức quần chúng lại
thành một khối thống nhất, vững chắc, đấu tranh tiêu diệt
cả chế độ của chúng.
Mấy anh em ngồi nhìn nhau, không hiểu làm sao Bác
lại biết được ý của họ. Nhưng cũng từ đó, anh em nhận thức
thêm được một vấn đề mà từ trước còn mờ mịt, còn nhầm
lẫn đúng sai. Cứ qua thực tế như vậy Bác đã đem ánh sáng
của chủ nghĩa Mác - Lênin rọi vào trí óc non nớt và thơ ngây
của chúng tôi, giúp chúng tôi đi những bước vững chắc trong
công tác cách mạng.
Lúc bấy giờ, Hội nghị Trung ương lần thứ tám chưa
họp, nhưng Bác đã lập ra những hội cứu quốc: Nông dân
cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc. Bác giải thích:
- Chúng ta muốn có một đội võ trang mạnh, trước hết
phải có một đội quân tuyên truyền mạnh, đội quân chính
trị vững.
Bác lấy một đoạn trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b)
Liên Xô nói cho chúng tôi nghe. Khi Cách mạng tháng Hai
lật đổ Nga hoàng, bọn Kerenxki nắm chính quyền, Lênin
chủ trương phải đi giải thích cho quần chúng rõ. Lênin nhấn
mạnh: Giải thích và giải thích. Muốn giải thích phải có đội
quân chính trị. Nói xong Bác kết luận:
- Ở nước ta hiện nay, muốn đánh Pháp, đuổi Nhật thì
ai là người vác súng, ai là người tự giác, tự nguyện đứng dậy
làm cách mạng. Đó là quảng đại quần chúng. Cho nên ta
14 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
phải tuyên truyền vận động quần chúng. Có như vậy cách
mạng mới thắng được.
Bác đề nghị chúng tôi làm thế nào giáo dục quần
chúng để trong một thời gian ngắn ta có được một phong
trào chống Pháp đuổi Nhật như ngọn thủy triều dâng lên ở
các địa phương.
Trong công tác cũng như trong khi giảng dạy ở các lớp
huấn luyện, Bác chú trọng đặc biệt đến cách tuyên truyền
vận động quần chúng. Bác thường nói:
- Chúng ta ở rất bí mật. Nhưng đó là bí mật với tụi
tổng đoàn, với bọn mật thám, bọn Tây, bọn thống trị chứ
không phải bí mật với nhân dân.
Bác còn yêu cầu lấy quần chúng làm bình phong bảo
vệ và che chở cho cách mạng. Muốn được như thế, cán bộ
không được làm điều gì trái với ý quần chúng, trái với phong
tục tập quán địa phương. Có những phong tục tốt, cần giữ
lại. Cũng có nhiều phong tục tập quán không tốt, cần phải
thay đổi. Nhưng không phải tự ý cán bộ thay đổi ngay một
lúc mà phải vận động từ từ để quần chúng giác ngộ và tự cải
cách lấy.
Nguồn “Những truyện kể về tinh thần đoàn kết của Bác Hồ”,
NXB Lao động, Phan Tuyết - Bích Diệp (sưu tầm - tuyển chọn).
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 15
Coøn daân, coøn nöôùc
Năm 1945, sau khi nhân dân ta giành được độc lập,
theo kế hoạch giải giáp quân đội Nhật đã đầu hàng, quân
đội Tưởng lốc nhốc vào nước ta, đứng chân ở nhiều tỉnh lỵ,
từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc.
Bác Hồ và Chính phủ đã chỉ thị phải hợp tác thành
thật với họ, tránh khiêu khích để sinh ra lộn xộn, xung đột.
Tuy chỉ thị đã ban hành, nhưng Bác “sợ” vẫn chưa chắc
chắn, nên Bác đã triệu tập một số chủ tịch tỉnh, thị xã Phú
Thọ, Vĩnh Yên, Phú Yên, Bắc Giang, Sơn Tây, Lạng Sơn, cả
Hà Nội vào Bắc Bộ phủ.
Các đại biểu được dịp báo cáo với Bác những hành
vi ngang ngược, cướp của, tống tiền, dung túng cho bọn
Việt Cách, Việt Quốc làm bậy, âm mưu lật đổ chính quyền,
chiếm đóng một số nơi.
16 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Bác nói:
- Họ nhân danh Đồng Minh vào nước ta tước vũ khí
quân đội Nhật. Nếu ta để xảy ra chuyện gì đó, họ sẽ lấy cớ
làm khó dễ cho ta…
Đại biểu Vĩnh Yên thưa:
- Thưa Bác, ta thì muốn hữu nghị hợp tác nhưng họ
lại muốn cướp đất của ta…
Không thấy ai phát biểu nữa, Bác nói:
- Các chú có thấy dân ta theo họ, hợp tác với họ
không? Nếu dân ta không đứng về phía họ - thì ta dù có
tạm thời không giữ được một ít nơi, nhưng vẫn không mất
nước. Vì còn Dân thì còn Nước. Dân là gốc của Nước. Các
chú phải làm sao để Dân tin tưởng vào Chính phủ, nghe lời
Chính phủ, tuân theo chỉ thị của Trung ương. Chú nào làm
sai, phải chịu kỷ luật… Chú nào có ý kiến gì không? Bác
dừng nói, chờ. Không thấy ai “có ý kiến” nữa, Bác “tuyên
bố”: Giải tán hội nghị.
Nguồn: “Những truyện kể về tinh thần đoàn kết của Bác
Hồ”, NXB Lao động, Phan Tuyết - Bích Diệp (sưu tầm - tuyển chọn)
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 17
ÖÙng xöû cuûa Chuû tòch Hoà Chí Minh
vôùi Baûo Ñaïi
Thái độ ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với
Vĩnh Thụy (Bảo Đại) là một thí dụ điển hình cho tấm lòng
khoan dung độ lượng, sức thuyết phục cảm hóa của Người
đối với vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến cũ đã bị lật
đổ. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Vĩnh Thụy đã ra tới Hà Nội
theo lời mời của Người: Ngay lúc 15 giờ, Người đã đến chỗ
ông ta để thăm hỏi. Sáng ngày 5 tháng 9 năm 1945, Người
đã tiếp ông ta tại Bắc Bộ phủ. Ngày 10 tháng 9 năm 1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23 cử ông Vĩnh Thụy
làm Cố vấn Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa. Từ chỗ lo lắng cho số phận của mình không biết
có giống vua Louis XVI ở Pháp hay không, Vĩnh Thụy đã
mang ơn sâu nặng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông ta đã
viết thư về cho mẹ là bà Từ Cung ở Huế với những dòng xúc
18 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
động: “Cụ Hồ tốt lắm! Con ra đây được Cụ thương lắm! Cụ
thương con như con. Ả (tức là mẹ - TG) cứ yên tâm, không
phải lo chi cho con cả”. Vĩnh Thụy sinh năm 1911, kém Chủ
tịch Hồ Chí Minh 21 tuổi; bức thư trên là do ông ta viết, chứ
không phải do một người thư ký nào thảo hộ.
Về sau, do những hạn chế giai cấp mà ông không thể
vượt qua và sự lôi kéo của thực dân đế quốc, Vĩnh Thụy lại
trở về con đường cũ. Ngày 8 tháng 12 năm 1947, Hồ Chí
Minh vẫn điềm tĩnh trả lời phỏng vấn của các nhà báo Việt
Nam và nước ngoài: “Chính phủ và nhân dân ta rất mong
Cố vấn Vĩnh Thụy không có những hành động trái ngược
với những lời Cố vấn đã thề trước Tổ quốc và trước đồng
bào, trái với nguyện vọng của dân tộc. Dù sao vận mệnh của
dân tộc sẽ không vì một người hoặc một nhóm người mà
thay đổi”. Thái độ ứng xử ấy như một lời khuyên, một lời
cảnh tỉnh đối với Vĩnh Thụy, mặt khác lại khẳng định con
đường tất thắng của dân tộc.
Nguồn: “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” –
GS. Đặng Xuân Kỳ, Nxb Lao động, 2013, tr.228.
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 19
Baùc Hoà laøm ngoaïi giao
Trong lúc ở trong nước, nhân dân ta đang gấp rút
chuẩn bị tiến lên tổng khởi nghĩa, ở Côn Minh, Bác mở
“mặt trận ngoại giao'', trước hết với Mỹ. Qua phân tích, Bác
thấy rằng, lúc này đang cần phải tranh thủ Mỹ. Lợi dụng
kẻ thù này để đánh kẻ thù kia là một trong những kế sách
của Bác. Vì vậy, Bác quyết định tiếp tướng Claiơ Sênôn
(C. Chennault), Tư lệnh trưởng Bộ Tư lệnh không quân
14 của Mỹ ở Trung Quốc. Làm việc này, Bác muốn tranh
thủ những người có thể tranh thủ. Quan điểm ngoại giao
của Bác bao giờ cũng hết sức rõ ràng. Để chuẩn bị cho cuộc
tiếp tướng Sênôn, Bác gặp Sáclơ Phen (Charles Fell), người
phụ tá của Sênôn. Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Sáclơ Phen và
Bác được tiến hành vào ngày 17-3-1945. Sau đó, ngày 20-31945 Bác và Sáclơ Phen gặp nhau lần thứ hai tại hiệu cà phê
của gia đình anh Tống Minh Phương ở phố Chinpí, Côn
20 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Minh. Trước khi gặp Sênôn, gia đình anh Phương mua sắm
cho Bác chiếc áo lông và đôi giày mới. Cuộc gặp gỡ giữa
Bác và tướng Sênôn diễn ra ngày 23-3-1945, tại hành dinh
của Sênôn. Sênôn mặc quân phục đại lễ với tất cả các loại
huân chương mà ông ta được thưởng. Khi gặp Bác, Sênôn
lúng túng vì không có phiên dịch. Bác bảo không cần, rồi
nói chuyện với Sênôn bằng tiếng Anh rất lưu loát, làm ông
ta hết sức ngạc nhiên. Viên tướng Mỹ cảm ơn Bác và Việt
Minh đã cứu thoát, chăm sóc hết sức tử tế viên phi công.
Bác nói đây là bổn phận của những người Việt Nam chống
phát xít. Họ có thể làm tất cả những gì trong phạm vi khả
năng làm được để giúp Đồng Minh. Bác hỏi Sênôn rằng, phi
công Sao hiện giờ ở đâu? Sênôn trả lời: ''Sao đã lên đường về
Mỹ. Trước khi lên máy bay, Sao gửi lời cảm ơn Ngài'', Sênôn
trao cho Bác thuốc chữa bệnh và tiền Pháp tặng người Việt
Nam vì đã cứu sống phi công của họ. Bác nhận thuốc, hoàn
lại tiền. Tướng Sênôn, một con người có bộ mặt rất nghiêm
khắc, hiếm thấy nụ cười trên môi ông ta. Vậy mà khi tiếp
Bác, ông ta luôn luôn vui vẻ.
Vài ngày sau, viên tướng Mỹ lại xin gặp Bác. Ông ta
sai Sáclơ Phen đi ô tô đến tận nhà anh Phương để đón Bác.
Tới nơi, họ mở cửa lớn đón Bác vào. Tưởng phía Mỹ bàn
với Bác chuyện gì, hóa ra họ đề nghị Bác làm việc cho họ.
Nói đúng tim đen là họ mua chuộc Bác, vì lúc ấy có lẽ họ
chưa biết Bác là Hồ Chí Minh. Sau này, Bác kể lại, Bác đã
trả lời bọn chúng, đại ý là: Chúng tôi không phải người đi
làm thuê. Chúng tôi là người cách mạng. Chúng tôi đánh
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 21
Nhật, Đồng Minh cũng đánh Nhật. Chúng tôi giúp Đồng
Minh thì Đồng Minh phải giúp chúng tôi. Chúng ta bình
đẳng với nhau. Còn nhiệm vụ cách mạng, chúng tôi cứ làm.
Trước những lời lẽ cứng rắn của Bác, họ không dám giở trò
mua chuộc nữa, chỉ đề nghị Bác giúp đỡ cho một trạm cấp
cứu các phi công Đồng Minh ở Đông Dương khi bị nạn.
Bác đồng ý. Tướng Sênôn giao cho Sáclơ Phen thực hiện
kế hoạch này. Vấn đề chỉ có thế, vậy mà có kẻ xấu đồn rằng
Bác bị tình báo Mỹ lợi dụng. Người Mỹ ở Côn Minh mở tiệc
chiêu đãi Bác. Trong bữa tiệc, Bác kể tiểu sử của Oasinhtơn
(Washington) và Linhcôn (Lincoln), những người có công
giải phóng nước Mỹ và giải phóng người nô lệ da đen ở Mỹ.
Họ không ngờ rằng, một vị đại diện của Việt Minh lại am
hiểu sâu sắc những chính khách của nước Mỹ đến như vậy.
Dự tiệc xong, trở về nhà, Bác triệu tập một số bà con Việt
kiều có tâm huyết với nước, hiện đang ở Côn Minh lại, nói
rõ cho bà con biết vì sao ta lại tạm thời bắt tay với Mỹ? Vấn
đề là ở chỗ thu hút lực lượng chống Nhật - Pháp. Bác hỏi ý
kiến bà con: Phía Mỹ mời tiệc ta, ta có nên đáp lại không?
Bà con đồng thanh nhất trí đáp lại phía Mỹ bằng bữa cơm
Việt Nam. Anh Phương và chị Hoa xung phong đứng ra tổ
chức bữa tiệc. Hôm sau, mọi người bắt tay vào việc chuẩn bị
làm tiệc. Tiệc được tổ chức ngay tại nhà anh Phương. Nhờ
những bàn tay khéo léo của các chị, bữa tiệc được tổ chức
khá chu đáo. Nhìn các món ăn, Bác bằng lòng lắm, nói vui:
''Cơm ta chẳng kém gì cơm tây''. Năm phái viên cao cấp của
Mỹ đã đến dự tiệc. Về phía ta, ngoài Bác ra, có khoảng dăm
22 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
người, trong đó có anh Phương, chị Hoa. Bác đón tiếp phái
đoàn Mỹ hết sức nồng hậu. Do tài ngoại giao khéo léo của
Bác, những người Mỹ dự tiệc đều tuyên bố sẵn sàng ủng hộ
Việt Minh để đánh Nhật. Tiệc tan, Bác tiễn họ ra tận ô tô,
rồi quay trở vào nói với anh em: “Bữa tiệc đã thành công, đạt
được mục đích của ta”.
Nguồn: Hồi ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt
trong cuốn “Đường Bác Hồ chúng ta đi” ,
Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 23
Söï kính phuïc
cuûa nhöõng ngöôøi ñoái ñaàu
Hồ Chí Minh lãnh đạo cả dân tộc đánh bại cả ba đế
quốc to cùng với mọi thế lực phản động trong nước, để dân
tộc được độc lập, đất nước được thống nhất, con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội được rộng mở. Nhưng cũng giống như
C. Mác ở thế kỷ XIX, người không có kẻ thù riêng nào. Tất
cả các đối thủ của Người đều phải kính nể, cảm phục một
con người mà họ không thể khuất phục, không thể đánh bại,
và cuối cùng họ đành chấp nhận là người thua cuộc.
Giăng Xanhtơny ( Jean Sainteny), đại diện cho Chính
phủ Pháp đảm nhiệm việc đàm phán với Chính phủ Hồ Chí
Minh trong thời gian 1945 – 1946, đã tìm mọi cách để đè
bẹp lực lượng cách mạng Việt Nam, nhằm tái lập ách thống
trị của chủ nghĩa thực dân Pháp trên đất nước này. Khi
Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông cũng là người thay mặt
24 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Chính phủ Pháp sang viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà
Nội. Con người ấy đã viết về Hồ Chí Minh bằng những lời
rất trân trọng trong tập hồi ký Câu chuyện về một nền hòa
bình bị bỏ lỡ: Hồ Chí Minh – đó là một nhân vật đang phải
đối đầu và tôi là người đối thoại trong suốt 16 tháng. Do
hiểu biết rộng, thông minh, hoạt động rất tích cực, tuyệt đối
không nghĩ tới chuyện riêng tư, ông đã được nhân dân kính
yêu, tin tưởng không ai sánh kịp. Rất tiếc là hồi đó Chính
phủ Pháp đã đánh giá thấp nhân vật này và đã không hiểu
được giá trị cũng như uy lực của ông. Đến cuối đời, Giăng
Xanhtơny đã phải thú nhận Hồ Chí Minh là người đã đánh
đắm cả chế độ thực dân Pháp, nhưng lại vẫn là bạn của nước
Pháp.
Trung tá Ônây, thuyền trưởng thông báo hạm
Đuymông Đuyếcvin, đã chỉ huy con tàu chở Chủ tịch Hồ
Chí Minh từ quân cảng Tulông nước Pháp về Việt Nam hồi
tháng 9 năm 1946. Trong suốt chuyến đi 45 ngày, được tiếp
xúc với Hồ Chí Minh, Ônây đã hoàn toàn bị thuyết phục và
hoàn toàn ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam. Tháng
11 năm 1946, ông đã từ chối không nhận chức Tư lệnh Hải
quân Pháp ở Hải Phòng và xin trở về Pháp, kiên quyết không
tham chiến ở Việt Nam. Sau này, khi đã trở thành Thủy sư
Đô đốc, ông đã viết trong hồi ký của mình, ca ngợi Hồ Chí
Minh là một vị thủ lĩnh có phong cách rất độc đáo, rất thông
minh, bình tĩnh, chưa hề thấy ở bất kỳ ai.
Tướng P. Valuy với vai trò chính khách Pháp đã nhiều
lần tiếp xúc với Hồ Chí Minh trong năm 1946, thấy rõ thái
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 25
độ “hết sức nhã nhặn, hết sức lịch sự và hết sức quyến rũ”
của Người. Được thuyết phục bởi phong cách ứng xử của
Người, ông đã trở thành người đối thoại rất tâm đắc với Hồ
Chí Minh và giữa hai người đã có một “tình hữu nghị keo
sơn”.
Thiếu úy Sáclơ Phen và thiếu tá Ácsimet Patty là hai
sĩ quan của cơ quan tình báo Mỹ OSS đã có dịp gần gũi,
tiếp xúc với Hồ Chí Minh thời kỳ 1944 – 1945. Trong thời
gian ngắn một năm, Hồ Chí Minh đã để lại cho họ ấn tượng
không thể nào quên. Điều đó đã quyết định họ khuyến nghị
Chính phủ Mỹ đặt quan hệ với Hồ Chí Minh, đáng tiếc
Chính phủ Mỹ đã bỏ qua. Nhưng mối quan hệ giữa Hồ Chí
Minh với những người Mỹ này đã trở thành tình bạn ít ai
ngờ tới.
Ngày 30 tháng 9 năm 1945, khi rời Việt Nam , A. Patty
nhớ mãi lời dặn của Hồ Chí Minh: “Bạn nhớ trở lại Việt Nam.
Bạn bao giờ cũng được hoan nghênh”. Tác giả của cuốn Tại
sao Việt Nam? đã trở lại Việt Nam vào những năm 1985, 1990
với tất cả tấm lòng trân trọng và cảm phục đối với Hồ Chí
Minh, một con người hiếm có trên thế gian này.
Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với không biết bao nhiêu
người, về quan điểm và đường lối chính trị là rất khác nhau
hoặc hoàn toàn đối lập nhau; là bạn có điều kiện hoặc hai
bên đứng về hai trận tuyến rõ rệt. Nhưng phong cách ứng xử
Hồ Chí Minh đã có sức thuyết phục cảm hóa to lớn để giành
được sự đồng tình hoặc chí ít cũng là những nhân nhượng
26 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
cần thiết. Thủ tướng Ấn Độ, P. J. Nêru đã thể hiện những
tình cảm hết sức chân thành và sâu sắc: “…Thật là một điều
hân hạnh được gặp con người vĩ đại và có sức hút mãnh liệt
đối với chúng ta. Mặc dầu trong thế giới ngày nay còn có
khác biệt và xung đột, nhưng được gặp Bác Hồ, chúng ta
thật sung sướng được thấy lòng tốt của con người… Tình
bạn, lòng nhân ái sẽ vượt qua tất cả”.
Nguồn: “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” –
GS. Đặng Xuân Kỳ, Nxb Lao động, 2013, tr.230.
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 27
Baùc Hoà ñoái xöû vôùi tuø binh
Trong năm 1944, biên giới Việt - Trung có nhiều
diễn biến phức tạp khi những người Đồng Minh lấy danh
nghĩa chống phát xít Nhật cứ ngấp nghé muốn vào nước ta.
Họ đã cho người đến Bình Mãng giáp Sóc Trăng thuộc Hà
Quảng để quan sát tình hình. Khi các đồng chí địa phương
báo cáo lên Bác chuyện này, Bác có nhận xét ngay: Họ muốn
vào Việt Nam để nắm tình hình Nhật, nắm tình hình ta. Tóm
lại là họ hoạt động tình báo, cho nên phải cảnh giác với họ.
Vấn đề là phải từ chối khéo, nhưng lại không mất lòng họ.
Bác cử một số cán bộ đến Bình Mãng để tiếp họ. Trong buổi
tiếp, quả nhiên họ yêu cầu ta cho họ đặt điện đài trên đất
Việt Nam. Các đồng chí ta bày binh bố trận khéo đến nỗi đi
đến đâu cũng thấy lực lượng hùng mạnh của Việt Minh và
nói rằng lính Nhật đang còn đóng ở biên thùy với một lực
lượng mạnh, nếu muốn vào Việt Nam phải trang bị cho Việt
Minh một số vũ khí lớn, có thế mới bảo vệ được họ. Nghe ta
nói vậy, họ “co vòi'' không vào nữa.
28 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Đầu năm 1945, Bác lại sang Trung Quốc, với tư cách
đại diện Việt Minh liên lạc với Đồng Minh lúc ấy đang có
một bộ phận đóng ở Vân Nam. Cùng đi với Bác chuyến này
có anh Phùng Thế Tài làm nhiệm vụ bảo vệ, đưa đường và
anh Đinh Đại Toàn (tức Đại Minh) làm nhiệm vụ quản vụ.
Ngoài ra, còn có viên phi công Mỹ, trung úy Uyliam Sao
(Willliam Shaw), người được Việt Minh cứu thoát trong
cuộc nhảy dù xuống Cao Bằng, do sự trục trặc của máy bay.
Nhân đây, tôi xin nói rõ vài nét về viên phi công và chiếc
máy bay: Vào cuối năm 1944, có một chiếc máy bay của lực
lượng không quân Mỹ đóng tại Trung Quốc, vượt qua biên
giới Trung - Việt, chao lượn trên vùng trời Nước Hai, tỉnh
Cao Bằng. Đang bay, bỗng có tiếng động cơ gầm rú rất nặng,
có lẽ bị trúng đạn pháo của Nhật. Trong giây lát, chiếc máy
bay rơi. Viên phi công, trung úy Sao nhảy thoát ra ngoài.
Đồng bào địa phương nhìn rõ máy bay rơi và viên phi công
nhảy dù. Họ phân công nhau đi tìm phi công. Cuối cùng, họ
đã bắt gặp viên phi công đó. Nhìn dân quân du kích, viên phi
công sợ sệt, liền rút tiền, nhẫn vàng ra để dâng. Mọi người
lắc đầu, ra hiệu cho anh ta cất vào túi. Họ dẫn viên phi công
về trụ sở tòa soạn báo Việt Nam độc lập, đóng trong thành
nhà Mạc cũ ở vùng rừng Nước Hai. Lúc ấy, anh Phạm Văn
Đồng phụ trách cơ quan báo, giao cho tổ của anh Cao Hồng
Lĩnh, đưa viên phi công này lên chỗ Bác ở vùng giáp biên
giới Việt - Trung. Trong những ngày giải viên phi công đi,
anh em chăm sóc anh ta hết sức chu đáo, cho ăn xôi thịt,
trong lúc anh em phải ăn cơm nắm chấm muối vừng. Viên
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 29
phi công từ chỗ sợ sệt đến chỗ quy phục, thân mật với anh
em. Sao đã làm thơ tặng anh em. Khi đến nơi, anh em đưa
Sao đến gặp Bác. Anh Lĩnh có lần kể lại với tôi rằng, lúc ấy
anh thấy Bác như đang sửa soạn đi đâu vì vai Bác đeo xắc cốt,
tay cầm gậy chống. Anh đưa Sao đến trước mặt Bác. Nhìn
Sao, Bác tươi cười, bắt tay anh ta, kéo anh ta ngồi xuống cạnh
mình và nói chuyện hết sức thân mật:
- Quê anh ở bang nào thuộc nước Mỹ?
Nghe Bác hỏi bằng tiếng Anh rất chuẩn, Sao ngạc
nhiên, nở nụ cười rạng rỡ, đáp:
- Thưa ông, tôi ở Tếchdát.
- Anh đã có vợ chưa?
- Thưa ông, tôi đã có vợ.
- Anh có muốn về Mỹ gặp lại vợ không?
- Thưa ông, rất muốn.
- Chúng tôi sẽ trao trả ông cho lực lượng không quân
Mỹ tại Trung Quốc.
- Thưa ông, nếu được như vậy quả là niềm vinh hạnh
đối với tôi.
Rồi Bác bảo anh em bố trí nơi ăn, chốn ở chu đáo cho
anh ta. Khi về chỗ nghỉ, Sao hết lời ca ngợi “ông cụ'', rằng:
“Ông ấy nói tiếng Anh nghe rõ quá, lại đối xử với tôi thân
mật như cha tôi vậy''. Sau khi gặp Bác, tinh thần của Sao phấn
chấn hẳn lên. Mấy hôm sau, Bác bảo các cô gái địa phương
30 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
kiếm chỉ thêu chữ “Chúc mừng'' (Greeting) trên mảnh lụa
trắng tặng Sao. Nhận tặng phẩm, Sao xúc động đến rơi lệ.
Anh ta không ngờ tại nơi núi rừng heo hút này lại có người
đối xử với anh ta văn minh như thế.
Nói về quân Pháp, sau khi chiếc máy bay rơi, chúng
cho quân đến vây khu rừng, cất tháo chiếc máy bay và truy
nã người phi công. Nhật thấy vậy, cũng muốn giành chiếc
máy bay đó, đồng thời cảnh cáo Pháp vì đã để phi công trốn
thoát, giao hẹn nếu không tìm được, Pháp sẽ phải trả giá đắt.
May làm sao, viên phi công đã được cán bộ Việt Minh bảo
vệ đưa ra khỏi khu nguy hiểm, giấu trong hang đá, chăm sóc
hết sức tử tế, rồi tìm cách đưa sang biên giới.
Bác đưa viên phi công này đi là để bàn giao cho Bộ
Tư lệnh không quân Mỹ tại Trung Quốc lúc ấy đóng ở Côn
Minh. Hành lý cùng thực phẩm mang theo là chiếc chăn
chiên cũ, mỗi người một bộ quần áo để thay, một ống nứa
đựng thịt với muối, ớt để “ăn dè'', theo kiểu “lèng'' đi đường
xa của người Tày, một chiếc ca tráng men. Để phòng xa, Bác
còn mang theo một số tiền quan kim, tiền của chính quyền
Tưởng Giới Thạch. Đoàn lữ khách chia làm ba tốp, tốp một
đi trước dò đường, tốp hai dẫn người phi công và tốp ba đi
sau đề phòng bị tập kích.
Hôm Bác lên đường, núi non Cao Bằng đẹp hẳn lên
vì có ánh nắng ban mai chiếu vào. Anh Đinh Đại Toàn nói
rằng, mùa rét mà có nắng sớm kể cũng hiếm thấy. Thường
thì ngày đi đêm nghỉ. Nhưng cũng nhiều hôm, ngày nghỉ
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 31
đêm đi, vì quân Nhật và quân Pháp dự đoán viên phi công
kia có thể đi về phía biên giới Việt - Trung, cho nên chúng
tăng cường lùng sục tìm kiếm. Để tránh quân Nhật và quân
Pháp đang bủa vây, nhiều khi phải đi vòng vèo. Trong cuộc
hành trình nên thơ và bi tráng ấy, trung úy Sao được ăn xôi
thịt gà, trong khi đó, Bác và anh em phải ăn cơm nắm với
thịt kho mặn. Trung úy Sao được đi ngựa, còn Bác và anh
em phải đi bộ. Khi ngủ, Sao được bảo vệ từ xa. Khi vượt qua
biên giới Việt - Trung, có người của Tưởng Giới Thạch dẫn
đường. Gặp những người dẫn đường khó tính, hoặc tuổi cao,
Bác động viên, an ủi họ, nói chuyện hết sức thân tình với họ,
biếu họ ít tiền gọi là trả chút công lao. Việc làm có tính chất
nghĩa cử của Bác làm họ xúc động. Còn đối với anh em, để
giảm bớt nỗi nhọc nhằn trên đường đi, Bác mang chuyện
lịch sử nước này ra kể, đọc thơ ''Chinh phụ ngâm'' để anh em
thưởng thức. Bác kể chuyện Hồng quân Trung Quốc trong
cuộc vạn lý trường chinh từ Hoa Nam lên Hoa Bắc, gian
khổ là thế, vậy mà các chiến sĩ vẫn tranh thủ học văn hóa.
Người đi trước viết chữ đeo lưng để người đi sau học. Khi
hành quân tới Hoa Bắc, số người hy sinh tới quá nửa. Nhưng
những người còn lại đã thoát nạn mù chữ. Họ viết thư về nhà
báo cho gia đình mình đã đi đến nơi. Những câu chuyện Bác
kể dọc đường đã động viên anh em rất nhiều.
Vì đi từng tốp riêng lẻ, khi sang tới bên kia biên giới,
tốp đi của Bác và tốp đi của viên phi công mới gặp nhau. Sau
5 ngày cùng đi trên địa phận Trung Hoa, Bác chia tay Sao, vì
nhà chức trách Trung Hoa nhận đưa viên phi công đến Côn
32 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
Minh để bàn giao cho phía Mỹ. Bác trở lại đi Vân Nam trong
khi Sao đi đường khác bằng ngựa, rồi bằng máy bay thẳng
tới Côn Minh.
Nguồn: Hồi ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt trong cuốn
“Đường Bác Hồ chúng ta đi”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 33
Chuyeän veà nhöõng böõa côm
cuûa Baùc Hoà
Phong cách sinh hoạt giản dị, thanh cao, ghét thói
xa hoa, lãng phí của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân
Việt Nam và nhân dân thế giới ngưỡng mộ. Một tác giả nước
ngoài đã viết rằng: Cuộc sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí
Minh và sự gần gũi với nhân dân là đặc trưng cho tình yêu
đối với đất nước của một Con Người đã trở thành huyền
thoại ngay trong cả cuộc sống đời thường của mình. Một
trong những yếu tố góp phần làm nên huyền thoại ấy bắt đầu
từ điều vô cùng bình thường nhất, đó là những bữa ăn của vị
Chủ tịch nước.
Ngày mới giành chính quyền năm 1945, Bác làm việc
tại Bắc Bộ Phủ trong căn phòng nhỏ trên gác hai. Bác được
cấp mỗi tháng 200đ cho việc ăn uống. Tới giờ ăn, Bác đến
ăn tại bếp tập thể cùng anh em. Bữa ăn của Bác đạm bạc,
thường chỉ có một miếng cá nhỏ, một bát canh, vài quả cà,
mấy cọng dưa, dăm lát ớt và miệng bát cơm. Ngày 10 tháng
34 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ
4 năm 1946, giữa lúc đất nước bộn bề công việc, Bác về thăm
Ninh Bình để dàn xếp vấn đề đối nội, đặc biệt là tôn giáo.
Khoảng 8 giờ, khi xe Bác đến thị xã, nhân dân ùa đến, vẫy
cờ, hô khẩu hiệu đón Bác. Anh em trong Ủy ban khẩn khoản
mời Bác ở lại nghỉ cho đỡ mệt và ăn tối, nhưng Bác nói:
“Hàng ngàn đồng bào chờ Bác ngoài kia, Bác không thể nghỉ
ở đây để ăn cơm vì 9 giờ tối Bác đã có việc ở Chủ tịch phủ.
Bây giờ các chú giúp Bác: một chú ra tập hợp đồng bào vào
một ngã tư rộng gần đây để Bác ra nói chuyện với đồng bào
mươi phút; một chú ra cửa hàng bánh mua cho Bác một cặp
bánh giò. Còn các chú đi với Bác thì tranh thủ ăn cơm trước.
Nói chuyện xong, Bác về Hà Nội ngay cho kịp hẹn. Trong xe,
Bác sẽ ăn bánh vừa đỡ tốn kém, vừa tiết kiệm thời gian cho
Bác”. Sau đó Bác ra nói chuyện với đồng bào. Khá muộn, Bác
vẫy tay chào đồng bào rồi lên xe về Hà Nội. Xe đi được một
quãng, Bác mới bắt đầu dùng bữa ăn tối của mình.
Kháng chiến bùng nổ, Bác cùng các cơ quan Trung
ương và Chính phủ trở lại Việt Bắc. Những năm đầu, đời
sống kháng chiến vô cùng kham khổ, Bác vẫn ăn chung với
anh em, bát ăn chỉ là ống bương cưa ra, thức ăn chủ yếu là
măng, rau, cao cấp nhất là thịt chim, sóc săn bắn hoặc đánh
bẫy được đem kho mặn với muối để Bác ăn dần, thi thoảng
tìm được con gà bồi dưỡng riêng cho Bác thì Người nói lộc
bất khả tận hưởng, rồi đem chia đều cho mọi người. Món ăn
chủ lực của Bác và anh em vẫn là món thịt Việt Minh gồm:
1kg thịt + 1kg muối + nửa kg ớt xào lên cho vào ống, đi đến
đâu dùng cũng tiện. Khi tăng gia, chăn nuôi được nhiều, anh
Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 35
em xin ý kiến, Bác đồng ý cho bỏ món thịt Việt Minh. Có
lần, đoàn công tác của Bác đi qua huyện Yên Sơn theo kế
hoạch ghé vào một cơ sở để ăn trưa. Nhưng khi đến nơi, thì
nghe có tiếng máy bay địch nên Bác bảo anh em đưa cơm ra
bãi cỏ ở bìa rừng ngồi ăn thuận tiện hơn. Hai đồng chí bảo vệ
vào xóm bưng cơm lại mượn thêm chiếc chiếu của gia đình
đồng bào ra ngồi. Lúc đặt mâm cơm xuống, Bác thấy có con
gà luộc, đĩa c...
 





