BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

TÀI NGUYÊN SỐ TRƯỜNG THCS PHONG XUÂN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    CHÂM NGÔN HÔM NAY

    Một cuốn sách hay dạy tôi nhiều điều hơn là đọc nó. Tôi phải nhanh chóng đặt nó xuống, bắt đầu sống theo những điều mà sách chỉ dẫn. Tôi khởi đầu bằng cách đọc và tôi phải kết thúc bằng hành động. (Henry David Thoreau)

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z5393809506254_97ec461a832bee5369f19b7573c2d128.jpg Z5393809511555_fc1e3767d367f26afa30d4a9bda1ebd3.jpg Z5393809515888_d526de519a7e5c31ce7d60d1fb672939.jpg Z5393809500301_2d696499cbf1281cd4d689e1c004f43d.jpg

    Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐỌC SÁCH

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Nhung chuyen ke ve tam guong dao duc Ho Chi Minh

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Lan (trang riêng)
    Ngày gửi: 10h:00' 30-04-2024
    Dung lượng: 502.4 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Nhöõng chuyeän keå veà taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 1
    NHÖÕNG CHUYEÄN KEÅ

    VEÀ TAÁM GÖÔNG ÑAÏO ÑÖÙC

    HOÀ CHÍ MINH
    Taäp 2

    2/

    NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    Nhöõng chuyeän keå veà taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 3

    THAØNH UÛY THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH
    BAN TUYEÂN GIAÙO

    NHÖÕNG CHUYEÄN KEÅ

    VEÀ TAÁM GÖÔNG ÑAÏO ÑÖÙC

    HOÀ CHÍ MINH
    Taäp 2

    Nhaø xuaát baûn Vaên hoùa - Vaên ngheä
    TP. Hoà Chí Minh 2013

    Trôøi coù boán muøa: Xuaân, Haï, Thu, Ñoâng.
    Ñaát coù boán phöông: Ñoâng, Taây, Nam, Baéc.
    Ngöôøi coù boán ñöùc: Caàn, Kieäm, Lieâm, Chính.
    Thieáu moät muøa, thì khoâng thaønh trôøi.
    Thieáu moät phöông, thì khoâng thaønh ñaát.
    Thieáu moät ñöùc, thì khoâng thaønh ngöôøi.

    6/

    NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    Nhöõng chuyeän keå veà taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 7

    LỜI GIỚI THIỆU

    Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị
    Màu quê hương bền bỉ đậm đà
    Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta
    Ta bỗng lớn ở bên Người một chút...
    Tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
    là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam; học tập và
    làm theo Người chính là phát huy những giá trị to lớn ấy để mỗi
    người và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, góp phần xây dựng đất
    nước ta “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”,
    vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
    Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương
    đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14 tháng
    5 năm 2011 của Bộ Chính trị đặt ra, yêu cầu nâng cao nhận
    thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân; tự giác
    tu dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ
    nghĩa cá nhân; làm cho việc học tập tấm gương đạo đức Bác
    Hồ trở thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu bền và là
    trách nhiệm, tình cảm, lợi ích thiết thân của mỗi chúng ta.

    8/

    NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    Để góp phần nhỏ vào công việc to lớn đó, kỷ niệm 122 năm
    Ngày sinh Bác Hồ kính yêu và biểu dương tập thể, cá nhân thực
    hiện tốt học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của
    Thành phố năm 2012, Ban Tuyên giáo Thành ủy đã sưu tầm,
    biên tập, phát hành cuốn “Những chuyện kể về tấm gương đạo
    đức Hồ Chí Minh” tập 1.
    Năm nay, nhân kỷ niệm 123 năm Ngày sinh của Bác
    (19-5-1890 - 19-5-2013), Ban Tuyên giáo Thành ủy tiếp tục
    sưu tầm, biên tập và phát hành tập sách “Những chuyện kể
    về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” tập 2, nhằm cung cấp
    thêm tư liệu giúp tìm hiểu về Bác và về những chiến sĩ cách mạng,
    về cán bộ, đảng viên, nhân dân thành phố đã noi gương làm theo
    Người.
    Xin trân trọng giới thiệu tập 2, mong rằng tập sách sẽ mang
    đến nhiều điều hữu ích cho các đồng chí và các bạn, nhất là triển
    khai chuyên đề: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
    Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương; nêu
    cao trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán
    bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” trong việc đẩy mạnh nghiên cứu,
    kể chuyện học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức,
    phong cách Hồ Chí Minh tại đơn vị.
    Chúng tôi sẽ tiếp tục sưu tầm, biên soạn các tập tiếp theo
    về các tập thể, cá nhân thực hiện tốt học tập và làm theo tấm
    gương đạo đức Hồ Chí Minh. Mong nhận được sự góp ý của các
    đồng chí và các bạn.
    BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 9

    Phaàn I

    TAÁM GÖÔNG ÑAÏO ÑÖÙC
    HOÀ CHÍ MINH

    10 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 11

    Caùch maïng laø söï nghieäp
    cuûa quaàn chuùng
    Từ những ngày đầu hoạt động, Bác đã dày công dạy
    cho cán bộ nhận thức được sâu sắc rằng: Cách mạng là sự
    nghiệp của quần chúng. Vì thế cho nên, khi ở Liên Xô về
    Trung Quốc, cuối năm 1924, Bác đã tìm mọi cách liên lạc,
    đưa thanh niên ta sang Quảng Châu mở lớp đào tạo những
    hạt giống cho cách mạng. Trong số những người học trò
    đầu tiên của Bác lúc bấy giờ có đồng chí Trần Phú, sau này
    trở thành Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta. Thời kỳ Bác
    đi công tác Côn Minh - Hồ Khẩu, thời gian rất ngắn, công
    việc lại nhiều, nhưng tối đến Bác vẫn triệu tập anh em đến
    giảng giải về công tác cách mạng, về nhiệm vụ của người
    đảng viên.
    Khi về Pác Bó, có điều kiện hơn ở ngoài nước, nhiều
    lớp huấn luyện chính trị và quân sự được Bác liên tiếp mở

    12 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    ra thu hút rất nhiều cán bộ ta. Mỗi lớp như thế thường được
    mở trong tuần hay mười hôm. Bác đào tạo, huấn luyện anh
    em rồi trả họ về cơ sở, rèn luyện họ trong thực tiễn cách
    mạng.
    Đối với Bác, một hạt giống tốt không thể tự nó lớn
    lên và chết dần mà phải làm cho nó nảy nở ra trăm ngàn hạt
    giống khác. Lớp học lúc bấy giờ cũng rất đơn giản, không
    bàn không ghế. Mấy anh em ngồi chung quanh đống lửa vừa
    được sưởi ấm vừa được nghe Bác nói chuyện. Những câu
    chuyện Bác nói thường là những câu chuyện thực trong đời
    sống hàng ngày, hay trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b)
    Liên Xô…
    Một lần, có một số anh em bàn riêng với nhau chuẩn
    bị giết tên tổng đoàn - (tên này rất ác, sau hắn giết anh Kim
    Đồng) - Trong một buổi huấn luyện, Bác đem đọc cho mọi
    người nghe đoạn nói về tả khuynh và ám sát cá nhân trong
    cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô. Đọc xong Bác giải
    thích:
    - Ám sát cá nhân không phải là đường lối cách mạng
    chân chính. Nhất là khi ta chưa nắm được chính quyền, chủ
    trương ám sát cá nhân là một điều hết sức sai lầm. Thường
    đấy là những cái cớ để bọn đế quốc tìm cách tăng cường đàn
    áp cách mạng. Mục tiêu của ta là tiêu diệt bọn đế quốc, bọn
    phong kiến thống trị chứ không phải giết một thằng là xong.
    Hôm nay chúng ta giết thằng này, ngày mai chúng lại đưa
    thằng khác lên. Chủ trương đúng đắn nhất của những người

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 13

    cách mạng chân chính là biết cách tổ chức quần chúng lại
    thành một khối thống nhất, vững chắc, đấu tranh tiêu diệt
    cả chế độ của chúng.
    Mấy anh em ngồi nhìn nhau, không hiểu làm sao Bác
    lại biết được ý của họ. Nhưng cũng từ đó, anh em nhận thức
    thêm được một vấn đề mà từ trước còn mờ mịt, còn nhầm
    lẫn đúng sai. Cứ qua thực tế như vậy Bác đã đem ánh sáng
    của chủ nghĩa Mác - Lênin rọi vào trí óc non nớt và thơ ngây
    của chúng tôi, giúp chúng tôi đi những bước vững chắc trong
    công tác cách mạng.
    Lúc bấy giờ, Hội nghị Trung ương lần thứ tám chưa
    họp, nhưng Bác đã lập ra những hội cứu quốc: Nông dân
    cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc. Bác giải thích:
    - Chúng ta muốn có một đội võ trang mạnh, trước hết
    phải có một đội quân tuyên truyền mạnh, đội quân chính
    trị vững.
    Bác lấy một đoạn trong cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (b)
    Liên Xô nói cho chúng tôi nghe. Khi Cách mạng tháng Hai
    lật đổ Nga hoàng, bọn Kerenxki nắm chính quyền, Lênin
    chủ trương phải đi giải thích cho quần chúng rõ. Lênin nhấn
    mạnh: Giải thích và giải thích. Muốn giải thích phải có đội
    quân chính trị. Nói xong Bác kết luận:
    - Ở nước ta hiện nay, muốn đánh Pháp, đuổi Nhật thì
    ai là người vác súng, ai là người tự giác, tự nguyện đứng dậy
    làm cách mạng. Đó là quảng đại quần chúng. Cho nên ta

    14 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    phải tuyên truyền vận động quần chúng. Có như vậy cách
    mạng mới thắng được.
    Bác đề nghị chúng tôi làm thế nào giáo dục quần
    chúng để trong một thời gian ngắn ta có được một phong
    trào chống Pháp đuổi Nhật như ngọn thủy triều dâng lên ở
    các địa phương.
    Trong công tác cũng như trong khi giảng dạy ở các lớp
    huấn luyện, Bác chú trọng đặc biệt đến cách tuyên truyền
    vận động quần chúng. Bác thường nói:
    - Chúng ta ở rất bí mật. Nhưng đó là bí mật với tụi
    tổng đoàn, với bọn mật thám, bọn Tây, bọn thống trị chứ
    không phải bí mật với nhân dân.
    Bác còn yêu cầu lấy quần chúng làm bình phong bảo
    vệ và che chở cho cách mạng. Muốn được như thế, cán bộ
    không được làm điều gì trái với ý quần chúng, trái với phong
    tục tập quán địa phương. Có những phong tục tốt, cần giữ
    lại. Cũng có nhiều phong tục tập quán không tốt, cần phải
    thay đổi. Nhưng không phải tự ý cán bộ thay đổi ngay một
    lúc mà phải vận động từ từ để quần chúng giác ngộ và tự cải
    cách lấy.
    Nguồn “Những truyện kể về tinh thần đoàn kết của Bác Hồ”,
    NXB Lao động, Phan Tuyết - Bích Diệp (sưu tầm - tuyển chọn).

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 15

    Coøn daân, coøn nöôùc
    Năm 1945, sau khi nhân dân ta giành được độc lập,
    theo kế hoạch giải giáp quân đội Nhật đã đầu hàng, quân
    đội Tưởng lốc nhốc vào nước ta, đứng chân ở nhiều tỉnh lỵ,
    từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc.
    Bác Hồ và Chính phủ đã chỉ thị phải hợp tác thành
    thật với họ, tránh khiêu khích để sinh ra lộn xộn, xung đột.
    Tuy chỉ thị đã ban hành, nhưng Bác “sợ” vẫn chưa chắc
    chắn, nên Bác đã triệu tập một số chủ tịch tỉnh, thị xã Phú
    Thọ, Vĩnh Yên, Phú Yên, Bắc Giang, Sơn Tây, Lạng Sơn, cả
    Hà Nội vào Bắc Bộ phủ.
    Các đại biểu được dịp báo cáo với Bác những hành
    vi ngang ngược, cướp của, tống tiền, dung túng cho bọn
    Việt Cách, Việt Quốc làm bậy, âm mưu lật đổ chính quyền,
    chiếm đóng một số nơi.

    16 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    Bác nói:
    - Họ nhân danh Đồng Minh vào nước ta tước vũ khí
    quân đội Nhật. Nếu ta để xảy ra chuyện gì đó, họ sẽ lấy cớ
    làm khó dễ cho ta…
    Đại biểu Vĩnh Yên thưa:
    - Thưa Bác, ta thì muốn hữu nghị hợp tác nhưng họ
    lại muốn cướp đất của ta…
    Không thấy ai phát biểu nữa, Bác nói:
    - Các chú có thấy dân ta theo họ, hợp tác với họ
    không? Nếu dân ta không đứng về phía họ - thì ta dù có
    tạm thời không giữ được một ít nơi, nhưng vẫn không mất
    nước. Vì còn Dân thì còn Nước. Dân là gốc của Nước. Các
    chú phải làm sao để Dân tin tưởng vào Chính phủ, nghe lời
    Chính phủ, tuân theo chỉ thị của Trung ương. Chú nào làm
    sai, phải chịu kỷ luật… Chú nào có ý kiến gì không? Bác
    dừng nói, chờ. Không thấy ai “có ý kiến” nữa, Bác “tuyên
    bố”: Giải tán hội nghị.
    Nguồn: “Những truyện kể về tinh thần đoàn kết của Bác
    Hồ”, NXB Lao động, Phan Tuyết - Bích Diệp (sưu tầm - tuyển chọn)

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 17

    ÖÙng xöû cuûa Chuû tòch Hoà Chí Minh
    vôùi Baûo Ñaïi
    Thái độ ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với
    Vĩnh Thụy (Bảo Đại) là một thí dụ điển hình cho tấm lòng
    khoan dung độ lượng, sức thuyết phục cảm hóa của Người
    đối với vị vua cuối cùng của chế độ phong kiến cũ đã bị lật
    đổ. Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Vĩnh Thụy đã ra tới Hà Nội
    theo lời mời của Người: Ngay lúc 15 giờ, Người đã đến chỗ
    ông ta để thăm hỏi. Sáng ngày 5 tháng 9 năm 1945, Người
    đã tiếp ông ta tại Bắc Bộ phủ. Ngày 10 tháng 9 năm 1945,
    Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23 cử ông Vĩnh Thụy
    làm Cố vấn Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ
    Cộng hòa. Từ chỗ lo lắng cho số phận của mình không biết
    có giống vua Louis XVI ở Pháp hay không, Vĩnh Thụy đã
    mang ơn sâu nặng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông ta đã
    viết thư về cho mẹ là bà Từ Cung ở Huế với những dòng xúc

    18 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    động: “Cụ Hồ tốt lắm! Con ra đây được Cụ thương lắm! Cụ
    thương con như con. Ả (tức là mẹ - TG) cứ yên tâm, không
    phải lo chi cho con cả”. Vĩnh Thụy sinh năm 1911, kém Chủ
    tịch Hồ Chí Minh 21 tuổi; bức thư trên là do ông ta viết, chứ
    không phải do một người thư ký nào thảo hộ.
    Về sau, do những hạn chế giai cấp mà ông không thể
    vượt qua và sự lôi kéo của thực dân đế quốc, Vĩnh Thụy lại
    trở về con đường cũ. Ngày 8 tháng 12 năm 1947, Hồ Chí
    Minh vẫn điềm tĩnh trả lời phỏng vấn của các nhà báo Việt
    Nam và nước ngoài: “Chính phủ và nhân dân ta rất mong
    Cố vấn Vĩnh Thụy không có những hành động trái ngược
    với những lời Cố vấn đã thề trước Tổ quốc và trước đồng
    bào, trái với nguyện vọng của dân tộc. Dù sao vận mệnh của
    dân tộc sẽ không vì một người hoặc một nhóm người mà
    thay đổi”. Thái độ ứng xử ấy như một lời khuyên, một lời
    cảnh tỉnh đối với Vĩnh Thụy, mặt khác lại khẳng định con
    đường tất thắng của dân tộc.
    Nguồn: “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” –
    GS. Đặng Xuân Kỳ, Nxb Lao động, 2013, tr.228.

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 19

    Baùc Hoà laøm ngoaïi giao
    Trong lúc ở trong nước, nhân dân ta đang gấp rút
    chuẩn bị tiến lên tổng khởi nghĩa, ở Côn Minh, Bác mở
    “mặt trận ngoại giao'', trước hết với Mỹ. Qua phân tích, Bác
    thấy rằng, lúc này đang cần phải tranh thủ Mỹ. Lợi dụng
    kẻ thù này để đánh kẻ thù kia là một trong những kế sách
    của Bác. Vì vậy, Bác quyết định tiếp tướng Claiơ Sênôn
    (C. Chennault), Tư lệnh trưởng Bộ Tư lệnh không quân
    14 của Mỹ ở Trung Quốc. Làm việc này, Bác muốn tranh
    thủ những người có thể tranh thủ. Quan điểm ngoại giao
    của Bác bao giờ cũng hết sức rõ ràng. Để chuẩn bị cho cuộc
    tiếp tướng Sênôn, Bác gặp Sáclơ Phen (Charles Fell), người
    phụ tá của Sênôn. Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Sáclơ Phen và
    Bác được tiến hành vào ngày 17-3-1945. Sau đó, ngày 20-31945 Bác và Sáclơ Phen gặp nhau lần thứ hai tại hiệu cà phê
    của gia đình anh Tống Minh Phương ở phố Chinpí, Côn

    20 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    Minh. Trước khi gặp Sênôn, gia đình anh Phương mua sắm
    cho Bác chiếc áo lông và đôi giày mới. Cuộc gặp gỡ giữa
    Bác và tướng Sênôn diễn ra ngày 23-3-1945, tại hành dinh
    của Sênôn. Sênôn mặc quân phục đại lễ với tất cả các loại
    huân chương mà ông ta được thưởng. Khi gặp Bác, Sênôn
    lúng túng vì không có phiên dịch. Bác bảo không cần, rồi
    nói chuyện với Sênôn bằng tiếng Anh rất lưu loát, làm ông
    ta hết sức ngạc nhiên. Viên tướng Mỹ cảm ơn Bác và Việt
    Minh đã cứu thoát, chăm sóc hết sức tử tế viên phi công.
    Bác nói đây là bổn phận của những người Việt Nam chống
    phát xít. Họ có thể làm tất cả những gì trong phạm vi khả
    năng làm được để giúp Đồng Minh. Bác hỏi Sênôn rằng, phi
    công Sao hiện giờ ở đâu? Sênôn trả lời: ''Sao đã lên đường về
    Mỹ. Trước khi lên máy bay, Sao gửi lời cảm ơn Ngài'', Sênôn
    trao cho Bác thuốc chữa bệnh và tiền Pháp tặng người Việt
    Nam vì đã cứu sống phi công của họ. Bác nhận thuốc, hoàn
    lại tiền. Tướng Sênôn, một con người có bộ mặt rất nghiêm
    khắc, hiếm thấy nụ cười trên môi ông ta. Vậy mà khi tiếp
    Bác, ông ta luôn luôn vui vẻ.
    Vài ngày sau, viên tướng Mỹ lại xin gặp Bác. Ông ta
    sai Sáclơ Phen đi ô tô đến tận nhà anh Phương để đón Bác.
    Tới nơi, họ mở cửa lớn đón Bác vào. Tưởng phía Mỹ bàn
    với Bác chuyện gì, hóa ra họ đề nghị Bác làm việc cho họ.
    Nói đúng tim đen là họ mua chuộc Bác, vì lúc ấy có lẽ họ
    chưa biết Bác là Hồ Chí Minh. Sau này, Bác kể lại, Bác đã
    trả lời bọn chúng, đại ý là: Chúng tôi không phải người đi
    làm thuê. Chúng tôi là người cách mạng. Chúng tôi đánh

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 21

    Nhật, Đồng Minh cũng đánh Nhật. Chúng tôi giúp Đồng
    Minh thì Đồng Minh phải giúp chúng tôi. Chúng ta bình
    đẳng với nhau. Còn nhiệm vụ cách mạng, chúng tôi cứ làm.
    Trước những lời lẽ cứng rắn của Bác, họ không dám giở trò
    mua chuộc nữa, chỉ đề nghị Bác giúp đỡ cho một trạm cấp
    cứu các phi công Đồng Minh ở Đông Dương khi bị nạn.
    Bác đồng ý. Tướng Sênôn giao cho Sáclơ Phen thực hiện
    kế hoạch này. Vấn đề chỉ có thế, vậy mà có kẻ xấu đồn rằng
    Bác bị tình báo Mỹ lợi dụng. Người Mỹ ở Côn Minh mở tiệc
    chiêu đãi Bác. Trong bữa tiệc, Bác kể tiểu sử của Oasinhtơn
    (Washington) và Linhcôn (Lincoln), những người có công
    giải phóng nước Mỹ và giải phóng người nô lệ da đen ở Mỹ.
    Họ không ngờ rằng, một vị đại diện của Việt Minh lại am
    hiểu sâu sắc những chính khách của nước Mỹ đến như vậy.
    Dự tiệc xong, trở về nhà, Bác triệu tập một số bà con Việt
    kiều có tâm huyết với nước, hiện đang ở Côn Minh lại, nói
    rõ cho bà con biết vì sao ta lại tạm thời bắt tay với Mỹ? Vấn
    đề là ở chỗ thu hút lực lượng chống Nhật - Pháp. Bác hỏi ý
    kiến bà con: Phía Mỹ mời tiệc ta, ta có nên đáp lại không?
    Bà con đồng thanh nhất trí đáp lại phía Mỹ bằng bữa cơm
    Việt Nam. Anh Phương và chị Hoa xung phong đứng ra tổ
    chức bữa tiệc. Hôm sau, mọi người bắt tay vào việc chuẩn bị
    làm tiệc. Tiệc được tổ chức ngay tại nhà anh Phương. Nhờ
    những bàn tay khéo léo của các chị, bữa tiệc được tổ chức
    khá chu đáo. Nhìn các món ăn, Bác bằng lòng lắm, nói vui:
    ''Cơm ta chẳng kém gì cơm tây''. Năm phái viên cao cấp của
    Mỹ đã đến dự tiệc. Về phía ta, ngoài Bác ra, có khoảng dăm

    22 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    người, trong đó có anh Phương, chị Hoa. Bác đón tiếp phái
    đoàn Mỹ hết sức nồng hậu. Do tài ngoại giao khéo léo của
    Bác, những người Mỹ dự tiệc đều tuyên bố sẵn sàng ủng hộ
    Việt Minh để đánh Nhật. Tiệc tan, Bác tiễn họ ra tận ô tô,
    rồi quay trở vào nói với anh em: “Bữa tiệc đã thành công, đạt
    được mục đích của ta”.
    Nguồn: Hồi ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt
    trong cuốn “Đường Bác Hồ chúng ta đi” ,
    Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 23

    Söï kính phuïc
    cuûa nhöõng ngöôøi ñoái ñaàu
    Hồ Chí Minh lãnh đạo cả dân tộc đánh bại cả ba đế
    quốc to cùng với mọi thế lực phản động trong nước, để dân
    tộc được độc lập, đất nước được thống nhất, con đường đi
    lên chủ nghĩa xã hội được rộng mở. Nhưng cũng giống như
    C. Mác ở thế kỷ XIX, người không có kẻ thù riêng nào. Tất
    cả các đối thủ của Người đều phải kính nể, cảm phục một
    con người mà họ không thể khuất phục, không thể đánh bại,
    và cuối cùng họ đành chấp nhận là người thua cuộc.
    Giăng Xanhtơny ( Jean Sainteny), đại diện cho Chính
    phủ Pháp đảm nhiệm việc đàm phán với Chính phủ Hồ Chí
    Minh trong thời gian 1945 – 1946, đã tìm mọi cách để đè
    bẹp lực lượng cách mạng Việt Nam, nhằm tái lập ách thống
    trị của chủ nghĩa thực dân Pháp trên đất nước này. Khi
    Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông cũng là người thay mặt

    24 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    Chính phủ Pháp sang viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà
    Nội. Con người ấy đã viết về Hồ Chí Minh bằng những lời
    rất trân trọng trong tập hồi ký Câu chuyện về một nền hòa
    bình bị bỏ lỡ: Hồ Chí Minh – đó là một nhân vật đang phải
    đối đầu và tôi là người đối thoại trong suốt 16 tháng. Do
    hiểu biết rộng, thông minh, hoạt động rất tích cực, tuyệt đối
    không nghĩ tới chuyện riêng tư, ông đã được nhân dân kính
    yêu, tin tưởng không ai sánh kịp. Rất tiếc là hồi đó Chính
    phủ Pháp đã đánh giá thấp nhân vật này và đã không hiểu
    được giá trị cũng như uy lực của ông. Đến cuối đời, Giăng
    Xanhtơny đã phải thú nhận Hồ Chí Minh là người đã đánh
    đắm cả chế độ thực dân Pháp, nhưng lại vẫn là bạn của nước
    Pháp.
    Trung tá Ônây, thuyền trưởng thông báo hạm
    Đuymông Đuyếcvin, đã chỉ huy con tàu chở Chủ tịch Hồ
    Chí Minh từ quân cảng Tulông nước Pháp về Việt Nam hồi
    tháng 9 năm 1946. Trong suốt chuyến đi 45 ngày, được tiếp
    xúc với Hồ Chí Minh, Ônây đã hoàn toàn bị thuyết phục và
    hoàn toàn ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam. Tháng
    11 năm 1946, ông đã từ chối không nhận chức Tư lệnh Hải
    quân Pháp ở Hải Phòng và xin trở về Pháp, kiên quyết không
    tham chiến ở Việt Nam. Sau này, khi đã trở thành Thủy sư
    Đô đốc, ông đã viết trong hồi ký của mình, ca ngợi Hồ Chí
    Minh là một vị thủ lĩnh có phong cách rất độc đáo, rất thông
    minh, bình tĩnh, chưa hề thấy ở bất kỳ ai.
    Tướng P. Valuy với vai trò chính khách Pháp đã nhiều
    lần tiếp xúc với Hồ Chí Minh trong năm 1946, thấy rõ thái

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 25

    độ “hết sức nhã nhặn, hết sức lịch sự và hết sức quyến rũ”
    của Người. Được thuyết phục bởi phong cách ứng xử của
    Người, ông đã trở thành người đối thoại rất tâm đắc với Hồ
    Chí Minh và giữa hai người đã có một “tình hữu nghị keo
    sơn”.
    Thiếu úy Sáclơ Phen và thiếu tá Ácsimet Patty là hai
    sĩ quan của cơ quan tình báo Mỹ OSS đã có dịp gần gũi,
    tiếp xúc với Hồ Chí Minh thời kỳ 1944 – 1945. Trong thời
    gian ngắn một năm, Hồ Chí Minh đã để lại cho họ ấn tượng
    không thể nào quên. Điều đó đã quyết định họ khuyến nghị
    Chính phủ Mỹ đặt quan hệ với Hồ Chí Minh, đáng tiếc
    Chính phủ Mỹ đã bỏ qua. Nhưng mối quan hệ giữa Hồ Chí
    Minh với những người Mỹ này đã trở thành tình bạn ít ai
    ngờ tới.
    Ngày 30 tháng 9 năm 1945, khi rời Việt Nam , A. Patty
    nhớ mãi lời dặn của Hồ Chí Minh: “Bạn nhớ trở lại Việt Nam.
    Bạn bao giờ cũng được hoan nghênh”. Tác giả của cuốn Tại
    sao Việt Nam? đã trở lại Việt Nam vào những năm 1985, 1990
    với tất cả tấm lòng trân trọng và cảm phục đối với Hồ Chí
    Minh, một con người hiếm có trên thế gian này.
    Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với không biết bao nhiêu
    người, về quan điểm và đường lối chính trị là rất khác nhau
    hoặc hoàn toàn đối lập nhau; là bạn có điều kiện hoặc hai
    bên đứng về hai trận tuyến rõ rệt. Nhưng phong cách ứng xử
    Hồ Chí Minh đã có sức thuyết phục cảm hóa to lớn để giành
    được sự đồng tình hoặc chí ít cũng là những nhân nhượng

    26 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    cần thiết. Thủ tướng Ấn Độ, P. J. Nêru đã thể hiện những
    tình cảm hết sức chân thành và sâu sắc: “…Thật là một điều
    hân hạnh được gặp con người vĩ đại và có sức hút mãnh liệt
    đối với chúng ta. Mặc dầu trong thế giới ngày nay còn có
    khác biệt và xung đột, nhưng được gặp Bác Hồ, chúng ta
    thật sung sướng được thấy lòng tốt của con người… Tình
    bạn, lòng nhân ái sẽ vượt qua tất cả”.
    Nguồn: “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” –
    GS. Đặng Xuân Kỳ, Nxb Lao động, 2013, tr.230.

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 27

    Baùc Hoà ñoái xöû vôùi tuø binh
    Trong năm 1944, biên giới Việt - Trung có nhiều
    diễn biến phức tạp khi những người Đồng Minh lấy danh
    nghĩa chống phát xít Nhật cứ ngấp nghé muốn vào nước ta.
    Họ đã cho người đến Bình Mãng giáp Sóc Trăng thuộc Hà
    Quảng để quan sát tình hình. Khi các đồng chí địa phương
    báo cáo lên Bác chuyện này, Bác có nhận xét ngay: Họ muốn
    vào Việt Nam để nắm tình hình Nhật, nắm tình hình ta. Tóm
    lại là họ hoạt động tình báo, cho nên phải cảnh giác với họ.
    Vấn đề là phải từ chối khéo, nhưng lại không mất lòng họ.
    Bác cử một số cán bộ đến Bình Mãng để tiếp họ. Trong buổi
    tiếp, quả nhiên họ yêu cầu ta cho họ đặt điện đài trên đất
    Việt Nam. Các đồng chí ta bày binh bố trận khéo đến nỗi đi
    đến đâu cũng thấy lực lượng hùng mạnh của Việt Minh và
    nói rằng lính Nhật đang còn đóng ở biên thùy với một lực
    lượng mạnh, nếu muốn vào Việt Nam phải trang bị cho Việt
    Minh một số vũ khí lớn, có thế mới bảo vệ được họ. Nghe ta
    nói vậy, họ “co vòi'' không vào nữa.

    28 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    Đầu năm 1945, Bác lại sang Trung Quốc, với tư cách
    đại diện Việt Minh liên lạc với Đồng Minh lúc ấy đang có
    một bộ phận đóng ở Vân Nam. Cùng đi với Bác chuyến này
    có anh Phùng Thế Tài làm nhiệm vụ bảo vệ, đưa đường và
    anh Đinh Đại Toàn (tức Đại Minh) làm nhiệm vụ quản vụ.
    Ngoài ra, còn có viên phi công Mỹ, trung úy Uyliam Sao
    (Willliam Shaw), người được Việt Minh cứu thoát trong
    cuộc nhảy dù xuống Cao Bằng, do sự trục trặc của máy bay.
    Nhân đây, tôi xin nói rõ vài nét về viên phi công và chiếc
    máy bay: Vào cuối năm 1944, có một chiếc máy bay của lực
    lượng không quân Mỹ đóng tại Trung Quốc, vượt qua biên
    giới Trung - Việt, chao lượn trên vùng trời Nước Hai, tỉnh
    Cao Bằng. Đang bay, bỗng có tiếng động cơ gầm rú rất nặng,
    có lẽ bị trúng đạn pháo của Nhật. Trong giây lát, chiếc máy
    bay rơi. Viên phi công, trung úy Sao nhảy thoát ra ngoài.
    Đồng bào địa phương nhìn rõ máy bay rơi và viên phi công
    nhảy dù. Họ phân công nhau đi tìm phi công. Cuối cùng, họ
    đã bắt gặp viên phi công đó. Nhìn dân quân du kích, viên phi
    công sợ sệt, liền rút tiền, nhẫn vàng ra để dâng. Mọi người
    lắc đầu, ra hiệu cho anh ta cất vào túi. Họ dẫn viên phi công
    về trụ sở tòa soạn báo Việt Nam độc lập, đóng trong thành
    nhà Mạc cũ ở vùng rừng Nước Hai. Lúc ấy, anh Phạm Văn
    Đồng phụ trách cơ quan báo, giao cho tổ của anh Cao Hồng
    Lĩnh, đưa viên phi công này lên chỗ Bác ở vùng giáp biên
    giới Việt - Trung. Trong những ngày giải viên phi công đi,
    anh em chăm sóc anh ta hết sức chu đáo, cho ăn xôi thịt,
    trong lúc anh em phải ăn cơm nắm chấm muối vừng. Viên

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 29

    phi công từ chỗ sợ sệt đến chỗ quy phục, thân mật với anh
    em. Sao đã làm thơ tặng anh em. Khi đến nơi, anh em đưa
    Sao đến gặp Bác. Anh Lĩnh có lần kể lại với tôi rằng, lúc ấy
    anh thấy Bác như đang sửa soạn đi đâu vì vai Bác đeo xắc cốt,
    tay cầm gậy chống. Anh đưa Sao đến trước mặt Bác. Nhìn
    Sao, Bác tươi cười, bắt tay anh ta, kéo anh ta ngồi xuống cạnh
    mình và nói chuyện hết sức thân mật:
    - Quê anh ở bang nào thuộc nước Mỹ?
    Nghe Bác hỏi bằng tiếng Anh rất chuẩn, Sao ngạc
    nhiên, nở nụ cười rạng rỡ, đáp:
    - Thưa ông, tôi ở Tếchdát.
    - Anh đã có vợ chưa?
    - Thưa ông, tôi đã có vợ.
    - Anh có muốn về Mỹ gặp lại vợ không?
    - Thưa ông, rất muốn.
    - Chúng tôi sẽ trao trả ông cho lực lượng không quân
    Mỹ tại Trung Quốc.
    - Thưa ông, nếu được như vậy quả là niềm vinh hạnh
    đối với tôi.
    Rồi Bác bảo anh em bố trí nơi ăn, chốn ở chu đáo cho
    anh ta. Khi về chỗ nghỉ, Sao hết lời ca ngợi “ông cụ'', rằng:
    “Ông ấy nói tiếng Anh nghe rõ quá, lại đối xử với tôi thân
    mật như cha tôi vậy''. Sau khi gặp Bác, tinh thần của Sao phấn
    chấn hẳn lên. Mấy hôm sau, Bác bảo các cô gái địa phương

    30 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    kiếm chỉ thêu chữ “Chúc mừng'' (Greeting) trên mảnh lụa
    trắng tặng Sao. Nhận tặng phẩm, Sao xúc động đến rơi lệ.
    Anh ta không ngờ tại nơi núi rừng heo hút này lại có người
    đối xử với anh ta văn minh như thế.
    Nói về quân Pháp, sau khi chiếc máy bay rơi, chúng
    cho quân đến vây khu rừng, cất tháo chiếc máy bay và truy
    nã người phi công. Nhật thấy vậy, cũng muốn giành chiếc
    máy bay đó, đồng thời cảnh cáo Pháp vì đã để phi công trốn
    thoát, giao hẹn nếu không tìm được, Pháp sẽ phải trả giá đắt.
    May làm sao, viên phi công đã được cán bộ Việt Minh bảo
    vệ đưa ra khỏi khu nguy hiểm, giấu trong hang đá, chăm sóc
    hết sức tử tế, rồi tìm cách đưa sang biên giới.
    Bác đưa viên phi công này đi là để bàn giao cho Bộ
    Tư lệnh không quân Mỹ tại Trung Quốc lúc ấy đóng ở Côn
    Minh. Hành lý cùng thực phẩm mang theo là chiếc chăn
    chiên cũ, mỗi người một bộ quần áo để thay, một ống nứa
    đựng thịt với muối, ớt để “ăn dè'', theo kiểu “lèng'' đi đường
    xa của người Tày, một chiếc ca tráng men. Để phòng xa, Bác
    còn mang theo một số tiền quan kim, tiền của chính quyền
    Tưởng Giới Thạch. Đoàn lữ khách chia làm ba tốp, tốp một
    đi trước dò đường, tốp hai dẫn người phi công và tốp ba đi
    sau đề phòng bị tập kích.
    Hôm Bác lên đường, núi non Cao Bằng đẹp hẳn lên
    vì có ánh nắng ban mai chiếu vào. Anh Đinh Đại Toàn nói
    rằng, mùa rét mà có nắng sớm kể cũng hiếm thấy. Thường
    thì ngày đi đêm nghỉ. Nhưng cũng nhiều hôm, ngày nghỉ

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 31

    đêm đi, vì quân Nhật và quân Pháp dự đoán viên phi công
    kia có thể đi về phía biên giới Việt - Trung, cho nên chúng
    tăng cường lùng sục tìm kiếm. Để tránh quân Nhật và quân
    Pháp đang bủa vây, nhiều khi phải đi vòng vèo. Trong cuộc
    hành trình nên thơ và bi tráng ấy, trung úy Sao được ăn xôi
    thịt gà, trong khi đó, Bác và anh em phải ăn cơm nắm với
    thịt kho mặn. Trung úy Sao được đi ngựa, còn Bác và anh
    em phải đi bộ. Khi ngủ, Sao được bảo vệ từ xa. Khi vượt qua
    biên giới Việt - Trung, có người của Tưởng Giới Thạch dẫn
    đường. Gặp những người dẫn đường khó tính, hoặc tuổi cao,
    Bác động viên, an ủi họ, nói chuyện hết sức thân tình với họ,
    biếu họ ít tiền gọi là trả chút công lao. Việc làm có tính chất
    nghĩa cử của Bác làm họ xúc động. Còn đối với anh em, để
    giảm bớt nỗi nhọc nhằn trên đường đi, Bác mang chuyện
    lịch sử nước này ra kể, đọc thơ ''Chinh phụ ngâm'' để anh em
    thưởng thức. Bác kể chuyện Hồng quân Trung Quốc trong
    cuộc vạn lý trường chinh từ Hoa Nam lên Hoa Bắc, gian
    khổ là thế, vậy mà các chiến sĩ vẫn tranh thủ học văn hóa.
    Người đi trước viết chữ đeo lưng để người đi sau học. Khi
    hành quân tới Hoa Bắc, số người hy sinh tới quá nửa. Nhưng
    những người còn lại đã thoát nạn mù chữ. Họ viết thư về nhà
    báo cho gia đình mình đã đi đến nơi. Những câu chuyện Bác
    kể dọc đường đã động viên anh em rất nhiều.
    Vì đi từng tốp riêng lẻ, khi sang tới bên kia biên giới,
    tốp đi của Bác và tốp đi của viên phi công mới gặp nhau. Sau
    5 ngày cùng đi trên địa phận Trung Hoa, Bác chia tay Sao, vì
    nhà chức trách Trung Hoa nhận đưa viên phi công đến Côn

    32 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    Minh để bàn giao cho phía Mỹ. Bác trở lại đi Vân Nam trong
    khi Sao đi đường khác bằng ngựa, rồi bằng máy bay thẳng
    tới Côn Minh.
    Nguồn: Hồi ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt trong cuốn
    “Đường Bác Hồ chúng ta đi”, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 33

    Chuyeän veà nhöõng böõa côm
    cuûa Baùc Hoà
    Phong cách sinh hoạt giản dị, thanh cao, ghét thói
    xa hoa, lãng phí của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân
    Việt Nam và nhân dân thế giới ngưỡng mộ. Một tác giả nước
    ngoài đã viết rằng: Cuộc sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí
    Minh và sự gần gũi với nhân dân là đặc trưng cho tình yêu
    đối với đất nước của một Con Người đã trở thành huyền
    thoại ngay trong cả cuộc sống đời thường của mình. Một
    trong những yếu tố góp phần làm nên huyền thoại ấy bắt đầu
    từ điều vô cùng bình thường nhất, đó là những bữa ăn của vị
    Chủ tịch nước.
    Ngày mới giành chính quyền năm 1945, Bác làm việc
    tại Bắc Bộ Phủ trong căn phòng nhỏ trên gác hai. Bác được
    cấp mỗi tháng 200đ cho việc ăn uống. Tới giờ ăn, Bác đến
    ăn tại bếp tập thể cùng anh em. Bữa ăn của Bác đạm bạc,
    thường chỉ có một miếng cá nhỏ, một bát canh, vài quả cà,
    mấy cọng dưa, dăm lát ớt và miệng bát cơm. Ngày 10 tháng

    34 / NHIEÀU TAÙC GIAÛ

    4 năm 1946, giữa lúc đất nước bộn bề công việc, Bác về thăm
    Ninh Bình để dàn xếp vấn đề đối nội, đặc biệt là tôn giáo.
    Khoảng 8 giờ, khi xe Bác đến thị xã, nhân dân ùa đến, vẫy
    cờ, hô khẩu hiệu đón Bác. Anh em trong Ủy ban khẩn khoản
    mời Bác ở lại nghỉ cho đỡ mệt và ăn tối, nhưng Bác nói:
    “Hàng ngàn đồng bào chờ Bác ngoài kia, Bác không thể nghỉ
    ở đây để ăn cơm vì 9 giờ tối Bác đã có việc ở Chủ tịch phủ.
    Bây giờ các chú giúp Bác: một chú ra tập hợp đồng bào vào
    một ngã tư rộng gần đây để Bác ra nói chuyện với đồng bào
    mươi phút; một chú ra cửa hàng bánh mua cho Bác một cặp
    bánh giò. Còn các chú đi với Bác thì tranh thủ ăn cơm trước.
    Nói chuyện xong, Bác về Hà Nội ngay cho kịp hẹn. Trong xe,
    Bác sẽ ăn bánh vừa đỡ tốn kém, vừa tiết kiệm thời gian cho
    Bác”. Sau đó Bác ra nói chuyện với đồng bào. Khá muộn, Bác
    vẫy tay chào đồng bào rồi lên xe về Hà Nội. Xe đi được một
    quãng, Bác mới bắt đầu dùng bữa ăn tối của mình.
    Kháng chiến bùng nổ, Bác cùng các cơ quan Trung
    ương và Chính phủ trở lại Việt Bắc. Những năm đầu, đời
    sống kháng chiến vô cùng kham khổ, Bác vẫn ăn chung với
    anh em, bát ăn chỉ là ống bương cưa ra, thức ăn chủ yếu là
    măng, rau, cao cấp nhất là thịt chim, sóc săn bắn hoặc đánh
    bẫy được đem kho mặn với muối để Bác ăn dần, thi thoảng
    tìm được con gà bồi dưỡng riêng cho Bác thì Người nói lộc
    bất khả tận hưởng, rồi đem chia đều cho mọi người. Món ăn
    chủ lực của Bác và anh em vẫn là món thịt Việt Minh gồm:
    1kg thịt + 1kg muối + nửa kg ớt xào lên cho vào ống, đi đến
    đâu dùng cũng tiện. Khi tăng gia, chăn nuôi được nhiều, anh

    Taám göông ñaïo ñöùc Hoà Chí Minh / 35

    em xin ý kiến, Bác đồng ý cho bỏ món thịt Việt Minh. Có
    lần, đoàn công tác của Bác đi qua huyện Yên Sơn theo kế
    hoạch ghé vào một cơ sở để ăn trưa. Nhưng khi đến nơi, thì
    nghe có tiếng máy bay địch nên Bác bảo anh em đưa cơm ra
    bãi cỏ ở bìa rừng ngồi ăn thuận tiện hơn. Hai đồng chí bảo vệ
    vào xóm bưng cơm lại mượn thêm chiếc chiếu của gia đình
    đồng bào ra ngồi. Lúc đặt mâm cơm xuống, Bác thấy có con
    gà luộc, đĩa c...
     
    Gửi ý kiến

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS PHONG XUÂN - PHONG ĐIỀN - TT HUẾ!